Quảng Ngãi Nghĩa Thục – Mộc Lan

Quảng Ngãi Nghĩa Thục (I)

Mộc Lan

 

Mộc Lan: Những lúc gần đây, người Việt hết sức buồn rầu và tức giận vì tình trạng giáo dục trong nước càng ngày càng xuống dốc. Một điều rất quái đản là tuy có rất nhiều trường học được mở ra nhưng trình độ học sinh, sinh viên vẫn không tiến lên mà chỉ thụt lùi. Trong một đất nước hòa bình được tiếng cởi mở và đổi mới cùng nguồn kiều hồi hàng năm đổ vào không nhỏ tại sao ngành giáo dục lại không thể trở mình? Phải chăng vì nhà nước CHXHCNVN vẫn còn thiếu thốn như họ hay than thở rằng “Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo sau chiến tranh…”

 

Xin mời nhìn về quá khứ, về xứ Quảng, để thấy rằng thiếu thốn vật chất không phải là nguyên nhân chính tạo ra sự yếu kém về giáo dục.

 

Quảng Ngãi trước 1975 là một vùng đất nghèo, thường xuyên gánh chịu những tai ương từ chiến tranh và thiên nhiên. Rất nhiều trẻ em phải bương chải kiếm sống thay vì được cắp sách đến trường. Thế nhưng, trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt ấy một ngôi trường trung học hoàn toàn miễn phí đã được dựng nên giúp cho các trẻ em kém may mắn có dịp học tập như bao trẻ khác. Ngôi trường đó có tên là “Quảng Ngãi Nghĩa Thục”.

 

Với mục đích giới thiệu về Quảng Ngãi Nghĩa Thục, bài viết này sẽ gồm 2 phần:

–         Phần I – Giới thiệu tóm tắt QNNT. Hầu hết những chi tiết trong phần này được trích từ hồi ký “Đời Tôi” của Nguyễn Liệu. (<b>1</b>)

–         Phần II  – Hồi ức, cảm tưởng của một số người đã có mặt trong QNNT, đó là 3 giáo sư Nguyễn Cao Can, Võ Hữu Cảnh,  Phạm thị Hồng Hạnh, và 2 cựu học sinh Nguyễn Đạt, Nguyễn Thanh Chi.

 

 

I – Sơ lược về Quảng Ngãi Nghĩa Thục (1970-1975)

 

Vào những năm tháng chiến tranh, cuộc sống của người dân Quảng Ngãi hết sức khó khăn. Số trẻ em thất học ngày càng đông, sống lêu lổng, không việc làm, thiếu cơm ăn áo mặc. Với các em, chỉ có hai ngõ thoát, hoặc gia nhập quân đội quốc gia, hoặc “chạy núi” tức đi theo cộng sản. Những em muốn đi học cũng không dễ tới trường bởi vì nạn tham nhũng hoành hành khiến gần như con em thành phần có quyền chức, giàu có luôn chiếm nửa số học sinh trúng tuyển vào các trường công. Những em bị gạt ra đều thuộc thành phần nghèo khó không đủ điều kiện học các trường tư lúc đó đã biến thành một ngành thương mại bị mỉa mai là “kỹ nghệ trường tư”.

 

Trước tình cảnh đó, Nguyễn Liệu thấy mình không thể làm ngơ. Ông nghĩ tới việc xây một trường miễn phí cấp trung học để nhận các trẻ em nghèo, không phân biệt gia đình em đó là theo Quốc Gia hay Cộng Sản. Nguyễn Liệu tâm sự:

 

“Tôi hình dung ngôi trường này sẽ mở ra cho tất cả trẻ em nghèo, dù là cộng sản hay quốc gia, người có tôn giáo hay không tôn giáo. Không phân biệt xu hướng chính trị. Việc nêu rõ thành phần ưu tiên sẽ không đi sai hướng mà còn giúp chúng tôi vượt qua nhiều trở ngại để đạt mục tiêu cứu vớt lớp trẻ bị đời bỏ quên, bị xã hội ruồng bỏ đang bị vây hãm trong nghịch cảnh nghèo đói, rách nát có thể tìm lại nụ cười vẫn vắng thiếu trên môi để xua tan ý nghĩ hận thù đời.”

 

Thế nhưng vào lúc đó Nguyễn Liệu chỉ là một thày giáo dạy văn nghèo, nghèo đến mức không có cái xe đạp để mà đi thì làm sao xây nổi một trường học có từ lớp 6 đến lớp 12?

 

Được đất nhờ văn

 

Trong trường hợp không tiền không đất, thường người chủ xướng sẽ đứng ra kêu gọi và quyên góp, thế nhưng Nguyễn Liệu không muốn làm theo cách đó, ông từng nhìn thấy nhiều tổ chức đã nêu chiêu bài thiện nguyện rồi lợi dụng lòng tin của người đóng góp. Vì thế, Nguyễn Liệu chọn con đường “Làm trước – Nói sau”, tự mình phải làm trước, người ta thấy, người ta tin, rồi người ta sẽ ủng hộ.

 

Việc khó đầu tiên là địa điểm, trong thành phố thì đất mắc như vàng,  xa thành phố thì không an ninh, trước sau gì cũng bị Cộng quân phá, càng làm cho dân nghèo càng bị phá vì chỉ có Cộng Sản mới được “độc quyền phục vụ” bà con dân nghèo.

 

Cuối cùng, Nguyễn Liệu cũng chọn được mảnh đất gần Quốc lộ 1 và núi Thiên Bút Phê Vân. Tuy địa điểm này khá thuận tiện và thơ mộng nhưng lại nằm sát bên với kho đạn của tỉnh, nếu Cộng quân tấn công kho đạn thì trường học cũng sẽ bị vạ lây. Nhưng hoặc vì Nguyễn Liệu đâm mê cảnh một trường nghĩa thục nằm trước ngọn núi hùng vĩ, hoặc ông chẳng có chọn lựa nào khác nên quyết định xin cho được miếng đất ấy. Thế nhưng, làm sao xin được đây?

 

Và Nguyễn Liệu đến gặp Trung Úy Thanh, Chỉ huy Trưởng kho đạn, một người cao to, cục mịch nhưng rất mê Kiều, trong ba lô luôn có tập thơ Kiều, rảnh rỗi là lôi ra đọc như đọc kinh. Hai người thao thao tranh luận về Kiều hơn 3 tiếng. Chỉ đến khi xắp bước chân khỏi cổng, Nguyễn Liệu mới “bỏ nhỏ” hỏi xin miếng đất để cất trường học. Trung Úy Thanh chỉ hứa không làm khó dễ chứ không có quyền cho đất, ông còn nhắc Nguyễn Liệu cần qua xã xin phép.

 

Thế nhưng Nguyễn Liệu không đi xin phép mà lại đi kiếm cát đổ nền. Người thứ hai ông tìm gặp là ông Được, chủ tịch nghiệp đoàn tỉnh Quảng Ngãi. Ông Được rất ngạc nhiên khi nghe nhờ giúp vài xe cát đổ vào ngay “tử địa” này. Nhưng Nguyễn Liệu trấn an ông, bảo “Bên kia đã đồng ý”. Thế là ông Được nhận lời giúp đỡ ngay, không biết rằng cho tới lúc ấy Nguyễn Liệu vẫn chưa xin được đất!

 

Dù muốn dù không, Nguyễn Liệu biết vẫn phải có phép của chính quyền chứ không thể làm ẩu. Nên ông đến gặp tỉnh trưởng, Đại tá Bình. Ông Bình là một người rất mê truyện võ hiệp Kim Dung. Ông thày dạy Văn  một lần nữa lại trổ tài bình văn võ hiệp kỳ tình làm ông tỉnh trưởng khoái chí. Và cũng như lần trước, Nguyễn Liệu chỉ hỏi xin phép xây trường khi xắp bước ra về. Ông Bình vui vẻ gật đầu nhưng hoàn toàn không biết miếng đất nằm ấy ở… chỗ nào.

 

Tới lúc này Nguyễn Liệu đã được 3 thứ: sự chấp thuận của tỉnh trưởng – dù chỉ là lời hứa miệng, vật liệu để đổ nền, và sự đồng thuận của người hàng xóm khó tính. Thế là cát được đổ rào rào xuống hố. Một tấm bảng do họa sĩ Phạm Cung kẻ thật đẹp được dựng lên với hàng chữ:

 

QUẢNG NGÃI NGHĨA THỤC

Trung tâm giáo dục, ngoài chính trị, ngoài tôn giáo.

Trung học miễn phí dành cho học sinh nghèo,

con em gia đình tử sĩ, binh sĩ và tị nạn cộng sản.

 

Ngay lập tức, hàng chữ trên bảng thu hút người qua lại. Nhiều năm qua, đoạn quốc lộ dưới chân núi Bút là đoạn đường chết, xe qua lại không được phép ngừng, lúc nào cũng canh phòng nghiêm ngặt, lính gác sẵn sàng nhả đạn vào các mục tiêu đáng nghi để bảo vệ kho đạn lớn nhất của tiểu khu. Vậy mà giờ đây, đoạn đường được bình thường hóa. Khách đi đường bu lại xem đông nghẹt trên khoảng lộ hồi sinh. Trung úy Thanh tươi cười nói: “Thày Liệu ạ, đoạn đường này trở thành đoạn đường hòa bình rồi đấy.

 

Hai chữ “hòa bình” như nói thay cho ước vọng biết bao người. Dường như ai ai cũng đều khắc khoải đớn đau trước hiện tình đất nước, trước tương lai đen tối của con em. Mọi người như đều muốn làm một cái gì đó để cải thiện cuộc sống nên đều thấy một ngôi trường miễn phí là vô cùng cần thiết.

 

Mái chưa lợp, vách chưa tô, nền chưa tráng, vậy mà phụ huynh học sinh đã ra vào tấp nập. Điều kiện thu nhận dễ dãi nên học sinh ghi danh quá đông so với số lớp học đang xây. Cuối cùng, phải dựng thêm một số phòng vách ván, mái tôn, nơi còn đất trống. Mỗi lớp còn phải chứa  rất đông học sinh, lớp nào cũng trên 80 em, có lớp tới 120 em, vì thà đông còn hơn để các em lang thang ngoài đường.

 

Quảng Ngãi Nghĩa Thục làm lễ khánh thành sau 3 tháng giảng dạy. Mỗi học sinh được dặn tự trồng một giỏ hoa. Ngày 20-1-1970, cũng là ngày gần Tết Nguyên Đán, trên 1 ngàn giỏ hoa rực rỡ xắp đầy sân trường mừng sự ra đời của một ngôi trường, một hy vọng, một tương lai mới.

 

Những bàn tay, những tấm lòng

 

Quảng Ngãi Nghĩa Thục đã được dựng nên với sự đóng góp của rất nhiều người.

 

Đó là cụ Nguyễn Tính, một lão ông 60, gương mặt lạnh lùng nhưng giọng nói chân thành, tự nguyện lãnh phần xây trường ngay từ khi bảng hiệu vừa cắm. Đó là Phạm Huệ, một thày giáo “nhà giàu” cùng cỡ tuổi với Nguyễn Liệu, vốn rất thích việc lập một trường tư cho học sinh nghèo nên sẵn sàng tặng ngay một số vật liệu xây dựng. Và còn nữa rất nhiều tấm lòng khác nữa.

 

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất không phải là xây được trường mà làm sao cho trường hoạt động được. Điều này đòi hỏi phải có nguồn tài chánh ổn định để chi trả, có ban quản trị vững vàng, và nhất là có đội ngũ giáo sư giỏi nhưng bằng lòng dạy với tiền lương không xứng đáng.

 

Về tài chánh, QNNT kêu nhân dân trong tỉnh và thân hữu tham gia làm sáng lập viên đóng góp tài chánh – một hình thức cổ đông của các công ty bất vụ lợi (non-profit organization), mỗi cổ phần 5 ngàn đồng. Trong vòng mười lăm ngày, gần một ngàn người tham gia ban sáng lập. Nhiều người không có con theo học nhưng vẫn tham gia làm sáng lập viên. Nhờ sự ủng hộ tận tình ấy nên chỉ với một thời gian ngắn QNNT đã trả hết những món nợ cho việc xây dựng trường lớp.

 

Nhưng điều ngạc nhiên cũng là khích lệ lớn lao nhất là có hơn trăm người đã đến tình nguyện dạy học mà không nhận một xu lương. Nguyễn Liệu bảo tâm trạng của ông trước sự kiện đó là một “nỗi mừng đến hoang mang, không biết là mộng hay là thực…”

 

Những bàn tay, những tấm lòng của người xứ Quảng đã chấn động lương tâm cả miền Nam. Nhờ sự đưa tin nhanh chóng của báo Đời và báo Sóng Thần, đồng bào nhiều nơi biết được sự ra đời hy hữu của QNNT và họ đã nhiệt tình ủng hộ.  Cảm động nhất là các em học sinh một trường tiểu học ở Quảng Trị, nơi bị chiến tranh tàn phá nặng, vẫn dành tiền ăn sáng hàng tháng để giúp QNNT. Lại có một toán y tá một bệnh viện ở Cà Mau đã dành mười ngày lương để giúp sửa lại trường sau cơn bão Hester. (<b>2</b>)

 

Ngoài ra, nhiều đoàn thể trong nước và quốc tế cũng ra tay giúp đỡ, trong đó có Tòa Đại Sứ Tây Đức, Hội Lion, Ngân Hàng Nam Việt, cùng nhiều cá nhân khác, như nhạc sĩ Phạm Duy và Lê Uyên – Phương đã trình diễn hai đêm văn nghệ không lấy thù lao, dành trọn số tiền thu được giúp QNNT.

 

Từ những tấm lòng nhân hậu, những bàn tay dứt khoát, QNNT đã ra đời như thế. Và QNNT đã trở thành mái ấm dạy dỗ chở che cho rất nhiều trẻ em bất hạnh.

 

Đức – Trí – Lý – Lực

 

Nhưng có lẽ điều giúp đỡ các em hơn cả là một phương pháp giáo dục đặc biệt mà chỉ QNNT mới có. Mục tiêu chủ yếu của QNNT là củng cố và khích động lòng yêu nước, yêu quê hương của lớp trẻ. Để đạt được mục tiêu cuối cùng đó, giáo trình của QNNT nhắm vào việc đào tạo con người qua bốn lĩnh vực giáo dục thiết yếu: Đức – Trí – Lý – Lực.

 

Đức:

 

Hầu hết đều hiểu Đức là bao gồm đạo nghĩa và đức hạnh. Cụ thể hơn, Đức Dục là rèn giũa cho con người luôn có lòng nhân ái đối với tha nhân, luôn bảo tồn nhân cách bản thân và tôn trọng nhân cách của đồng loại. Sẽ vô cùng bất hạnh cho dân tộc nào có người lãnh đạo là kẻ thiếu đạo đức. Nhưng hiểu rõ về Đạo Đức mà không thể hiện qua chính hành vi hàng ngày thì không thể gọi là có đạo đức.

 

Đạo đức cần được thực tập ngay trong lớp học vì lớp học là một xã hội thu nhỏ. Yêu cầu cụ thể đặt ra là gần một trăm người trong lớp phải gần gũi, giúp đỡ nhau mọi phương diện: học vấn, tánh tình, sức khoẻ… kể cả về tài chánh nếu cần. Giáo sư phụ trách dựa trên những điều kiện cụ thể để tạo cho học sinh tinh thần tập thể, loại trừ trước hết tính ích kỷ chỉ tuân theo đòi hỏi riêng tư bất kể do đó có thể xâm hại tới người khác.

 

Một trong những biểu hiện tinh thần tập thể là giúp đỡ những học sinh có sức học kém nhất. Đây là một điều khó khăn khi số học sinh một lớp quá đông mà trình độ quá chênh lệch. Giáo sư phải nhắm vào học sinh kém nhất để dạy, làm thế nào cho người kém nhất cũng hiểu bài, làm bài và theo kịp các học sinh khác.

 

Ngoài trường học, học sinh còn có cuộc sống gia đình và làng xóm nên cũng cần đáp ứng nhiều đòi hỏi tương tự về suy nghĩ và hành xử như ở trong lớp nhưng với những đối tượng khác là cha mẹ, anh em, và bà con láng giềng. Một cách thể hiện sự tôn trọng xã hội là giữ kỷ luật ở mọi nơi, mọi lúc. Vì thế học sinh QNNT được dạy khi đi xe đạp phải giữ sát lề mặt, không được đạp xe song song dàn hàng năm, hàng ba làm cản trở lưu thông trên đường phố.

 

Trí:

 

Trí tức là kiến thức, sự hiểu biết. Nhà trường chỉ có thể giúp học sinh có sự hiểu biết căn bản, học sinh còn phải biết tự trau dồi kiến thức cho mình. Do đó dù sau khi ra khỏi trường, học sinh vẫn phải không ngừng học hỏi, nhất là giữa thời đại khoa học tiến bộ quá nhanh luôn có những phát kiến mới. Không học thêm sẽ lập tức trở thành lạc hậu và bị đào thải. Việc tự học không gì dễ dàng bằng đọc sách. Vì thế, QNNT tập cho học sinh thói quen đọc sách qua việc buộc các em ít nhất mỗi tháng phải đọc một cuốn sách và tóm lược câu chuyện đang đọc vào một cuốn vở . Các giáo sư và cả hiệu trưởng có trách nhiệm kiểm soát cuốn sách và cuốn vở đó.

 

Ngày thứ bảy của tuần cuối tháng, từng lớp đến trường để thuyết trình về sách. Mọi học sinh đều phải sẵn sàng lên thuyết trình qua việc bốc thăm ngay lúc bắt đầu. Như vậy, mỗi năm mỗi học sinh ít nhất phải đọc 9 cuốn sách. Không chỉ có giáo sư dạy môn văn chương, mà giáo sư các môn khác: thể thao, nấu ăn, toán lý… đều khuyến khích học sinh dành thì giờ đọc sách, nói rõ giá trị to lớn của việc đọc sách để tạo phong trào đọc sách toàn trường.

 

Lý:

 

Đức và Trí vẫn là chưa đủ nếu thiếu hướng nhắm rõ rệt để đi tới trong cuộc sống. Nói một cách giản dị, Lý là Lý tưởng. Lý tưởng trước hết là một giấc mơ, rồi biến thành mục tiêu, chủ đích trong cuộc sống. Chủ đích chung của con người trong cuộc sống không ngoài mong muốn đạt tới cảnh đời an hòa, hạnh phúc, dù quan niệm về an hòa, hạnh phúc của mọi người không hoàn toàn giống nhau. Sự tăng trưởng của đạo đức sẽ giúp ước mơ dần biến thành ý nguyện cao đẹp, ngược lại, lý tưởng xác định phương hướng đi tới, tránh rơi vào cảnh sống mù lòa, bất định.

 

Hoàn cảnh nghèo đói thường khiến hầu hết học sinh mất thời thơ mộng của tuổi học trò, mất luôn niềm mơ ước. QNNT giúp các em trở lại tuổi trẻ, nuôi nấng ước mơ qua việc khuyến khích các em viết nhật ký.

 

Đó là một cuốn vở đẹp nhất. Ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm, nhận xét và sự việc hàng ngày đều được ghi vào cuốn vở đó một cách trung thực và tự do vì mình chỉ viết cho riêng mình. Học sinh bị buộc phải luôn mang trong cặp cuốn vở Nhật Ký. Hiệu trưởng Nguyễn Liệu có thể kiểm soát quyển vở nhật ký bất cứ lúc nào, tức nhiên không đọc nội dung, ông chỉ coi xem các em có viết hay bỏ giấy trắng mà thôi.

 

Lực:

 

Đạo – Trí – Lý là rất quan trọng nhưng lại hoàn toàn dựa vào sự tồn tại của bản thân, tức dựa vào yếu tố Lực. Có nhân cách lành mạnh, có hiểu biết đầy đủ, có hướng sống rõ ràng vẫn khó tới đích nếu thiếu sức khoẻ để đi tới.

 

Thể dục thể thao là cách tạo sức khoẻ hữu hiệu nhất, vì thế QNNT rất chú trọng đến môn thể thao. Mỗi buổi sáng trước khi vào lớp cũng như sau giờ học buổi chiều, học sinh phải ra sân tập thể dục theo điệu nhạc 30 phút. Mỗi học sinh phải ghi tên vào ít nhất một bộ môn như bóng tròn, bóng bàn, bóng rổ, bóng chuyền, vũ cầu. Hàng ngày trên sân trường luôn có những trận đấu giao hữu giữa lớp này, lớp khác. Bởi vậy, trường lúc nào cũng sôi động trong không khí trẻ trung, khoẻ mạnh.

 

Những tiêu chí của QNNT nghe ra có vẻ khá khe khắt đối với các học sinh nghèo, có em đã bỏ học nhiều năm, sống cay cực trong các trại tản cư, trại gia binh. Thế nhưng, khi được thày cô tận tình chỉ bảo, các em dần dần ý thức được tính hợp lý và mức cần thiết của những khuôn nếp đó nên đều tự nguyện thực hiện và tạo nên thói quen rất tự nhiên. Như khi đến trước tượng cụ Lương Văn Can, các em đều kính cẩn dở nón cũng lễ độ như đang cúi chào bất kỳ người lớn tuổi nào em gặp trong sân trường. (<b>3</b>)

 

Điều gì đã giúp Quảng Ngãi Nghĩa Thục thành công?

 

Có lẽ không quá lời khi nói Quảng Ngãi Nghĩa Thục là một hiện tượng thần kỳ. Không đầy 7 tuần lễ, khoảnh đất hoang vu lầy lội dưới chân núi đã biến thành một ngôi nhà lớn. Và chỉ trong 1 năm, là một trường có gần 20 lớp với khoảng 2,000 học sinh hoàn toàn miễn phí. Vài năm sau, QNNT còn mở rộng thêm một khu dạy cắt may và sửa máy. Điều này làm bật lên một câu hỏi: “Làm sao chỉ với hai bàn tay trắng lại dựng nên được một ngôi trường tuyệt diệu như vậy?”

 

Một điều ai cũng phải công nhận là nếu không có Nguyễn Liệu thì không có QNNT. Tuy nghèo về tiền bạc nhưng Nguyễn Liệu lại giàu một thứ, tiếng tốt. Ai cũng biết ông là một người thẳng thắn, dám nói dám làm và thường vì lợi ích chính đáng của người khác. Khi còn làm quận trưởng, Nguyễn Liệu đã tổ chức chiến dịch “Về Làng” giúp đưa nông dân trở về đồng ruộng làng mạc thân quen của họ. Nhờ nổi tiếng là người kiên quyết và vô vụ lợi nên Nguyễn Liệu được nhiều người tin tưởng và ủng hộ.

 

Cũng không thể bỏ qua trí thông minh và tài ứng biến của Nguyễn Liệu. Như đã dẫn ở trên, Nguyễn Liệu biết cách khéo léo thuyết phục người khác. Hơn thế, ông còn biết rõ về bản thân, biết mình có tính quá ưa thích công việc, mong công việc mau thành, từ đó dễ dẫm chân lên người khác, dễ gạt bỏ ý kiến người khác và dễ thành kẻ độc tài. Vì vậy Nguyễn Liệu đặt hẳn ra một ban quản trị và ban tài chánh tách riêng như một hệ thống “tam quyền phân lập” để tránh sự làm dụng quyền lực.

 

Nhưng dĩ nhiên một mình Nguyễn Liệu sẽ không thể làm hết mọi thứ nếu không có sự cộng tác, đóng góp của những người trong ban quản trị và các giáo sư. Trong số đó có những người chưa từng đi dạy vì là công chức hay sĩ quan nhưng vẫn tình nguyện; những người thày “không chuyên” ấy dường như biết mình không giỏi nên cố gắng tìm hiểu cặn kẽ bài vở và thận trọng khi giảng giải, biết chắc mới nói biết, lờ mờ thì nói chưa biết, không cương ẩu, và kết quả là họ dạy rất tốt.

 

Tất cả những người điều hành và giảng dạy của QNNT đều cùng chung một lý tưởng là đào tạo con người chứ không chỉ trao lại kiến thức. Vì thế họ đã có thể làm việc tận sức mà không nhận thù lao. Từ đó tạo nên một bầu không khí sinh hoạt anh em gắn bó không phân biệt. Chính không khí ấy đã ảnh hưởng tốt đến học sinh và trở thành động lực thúc đẩy các em cố gắng học hành và khép mình vào kỷ luật nhà trường để cải thiện bản thân.

 

Học sinh QNNT, dù quốc hay cộng, đều rất nghèo. Không ít em có dịp được ăn no, thường chỉ có một bộ quần áo để đi học, hàng ngày phải đi bộ sáu bảy cây số đến trường. Nhưng học sinh QNNT vẫn đạt được những thành tích rất đáng khích lệ. Niên khóa 1973-74, lần đầu tiên QNNT có học sinh thi tú tài, 60 em dự thi, trúng tuyển 30.

 

Ý chí phấn đấu của các em kỳ lạ thay lại là nguồn sức mạnh đẩy ngược lại nhà trường. Trẻ em khích lệ và đem niềm tin ngược lại cho người lớn, tạo ra một mối tương quan “giáo sư-học sinh” tiếp sức cho nhau, thúc đẩy lẫn nhau để cùng tiến tới mục đích tốt đẹp.

Sự thành công ban đầu của Quảng Ngãi Nghĩa Thục, do đó, nhờ vào 3 nhân tố chính: một người khởi xướng có tấm lòng và sự hiểu biết (lúc này người ta gọi là “có tâm và có tầm”), những người trí thức biết yêu nước thương dân, và các học sinh tuy nghèo nhưng hiếu học.

 

Nhưng không thể quên QNNT thực ra chỉ là sự nối dài ý tưởng của người đi trước, đó là các chí sĩ Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, những người đã sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục 65 năm về trước. Mục đích của ĐKNT là nâng cao dân trí, khích động tinh thần yêu nước và phổ biến những trào lưu tư tưởng mới. Và QNNT nguyện đi tiếp con đường đó.

 

Tượng chí sĩ Lương Văn Can được dựng lên ở vị trí trang trọng nhất trong khuôn viên QNNT. Mỗi học sinh QNNT đều thuộc tiểu sử Lương Văn Can, lịch sử Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào Đông Du. Chính nhờ đi theo những tư tưởng tiến bộ vị tha của tiền nhân nên QNNT khơi gợi được sự đồng cảm, đồng lòng của những người yêu chuộng lẽ phải khắp nơi.

 

Cuối cùng, điều giúp cho QNNT thành hình chính là nhờ mảnh đất miền Nam hào sảng, tự do và lãng mạn. Nếu không có sự tự do của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chắc chắn Nguyễn Liệu đã chẳng thể kiếm được miếng đất xây trường, cũng không thể tự tiện đặt ra đường hướng giáo dục khác thường, và nhất là QNNT không thể tự do nhận học sinh mà không xét lý lịch, kể cả khi biết đó là các em thuộc gia đình có người đi theo “phía bên kia”.

 

Trong môi trường chiến tranh khốc liệt với điều kiện vật chất hết sức thiếu thốn, ngôi trường hoàn toàn tự nguyện Quãng Ngãi Nghĩa Thục đã đứng vững suốt 5 năm dài, đó là nhờ tinh thần “Tự túc tự cường – Vì dân vì nước” của nhà trường, nhờ tình thương yêu đùm bọc của đồng bào, và nhất là, nhờ sự tự do của thể chế Cộng Hòa miền Nam Việt Nam.

 

Ghi chú:

 

<b>1</b>. Hồi ký “Đời Tôi” của Nguyễn Liệu do Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản, có thể đọc tại trang điện tử http://www.nghiathuc.com

 

<b>2</b>. Trong <a href=http://www.luanhoan.net/gocchung/html/HoangNgocLe/GC-quangngaioi.htm target=new>“Quảng Ngãi ơi! Tiếng nấc không rời”</a>, Hoàng Ngọc Lễ (một giáo sư Anh văn của QNNT) kể lại lúc đoàn báo Sóng Thần ra thăm QNNT gặp phải bão Hester.

<b>3</b>. Tượng chí sĩ Lương Văn Can của cố điều khắc gia Lê Thành Nhơn đã bị cộng sản phá hủy khi cưỡng chiếm miền Nam năm 1975.

 

Quảng Ngãi Nghĩa Thục (II)

Mộc Lan

 

Mộc Lan: Bài viết “Quảng Ngãi Nghĩa Thục – Phần I” đã giới thiệu sơ lược về một trường trung học hoàn toàn miễn phí dành cho trẻ em nghèo không phân biệt thành phần chính trị tại Quảng Ngãi đã được dựng lên vào những năm tháng chiến tranh khốc liệt 1970 nhưng lại phải đóng cửa sau khi chiến tranh chấm dứt năm 1975. Tuy nhiên, những chi tiết trong Phần I đều dựa trên sự kể lại của ông Nguyễn Liệu – người sáng lập và cũng là Hiệu trưởng QNNT, vì thế người viết đã tìm cách liên lạc với một số người từng có mặt vào lúc bấy giờ tại QNNT để có thêm chi tiết về ngôi trường nghĩa thục ấy.

 

Kính mời bạn đọc theo dõi “Quảng Ngãi Nghĩa Thục – Phần II”, tóm tắt lời kể của 3 cựu giáo sư: Nguyễn Cao Can, Võ Hữu Cảnh,  Phạm thị Hồng Hạnh; và 2 cựu học sinh Nguyễn Đạt, Nguyễn Thanh Chi.

 

II – Những hồi ức về Quảng Ngãi Nghĩa Thục

 

Cựu giáo sư Nguyễn Cao Can

 

Ông Nguyễn Cao Can từng giữ chức Giám học của Quảng Ngãi Nghĩa Thục. Vào khoảng năm 1968-69, Nguyễn Cao Can được biệt phái về dạy ở trường Bùi Thị Xuân – Đà Lạt. Vưa nhận Sự Vụ Lệnh, còn thời gian nghỉ phép, chưa kịp đến trường thì nhận được tin buồn: Người em trai duy nhất, Nguyễn Cao Long, tử trận ở Mỹ Tho, dành đi nhận xác em về lo mai táng ở Đà Lạt. Phần ông bà cụ buồn khổ ở quê nhà, đang mong ước ông về quê. Cùng lúc, ông được Nguyễn Liệu, một người bạn thân lâu năm, ngỏ ý mời tham gia điều hành một trường nghĩa thục, điều này đã làm ông hết sức phân vân vì lúc đó Quảng Ngãi là một nơi chiến tranh lộn xộn còn Đà Lạt vẫn còn là một vùng đất yên ả thanh bình. Cuối cùng, Nguyễn Cao Can đã chọn Quảng Ngãi.

 

Vào lúc bấy giờ một giáo sư bậc trung học chỉ cần dạy 16 tiếng một tuần là đủ tiêu chuẩn lãnh lương căn bản, nếu dạy thêm sẽ được trả lương phụ trội với mức một rưỡi. Tuy là giáo sư chính của trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi, ông chỉ dạy đủ 16 tiếng, còn lại dành hết cho Quảng Ngãi Nghĩa Thục.

 

Nguyễn Liệu kể về Nguyễn Cao Can như sau:

 

Nguyễn Cao Can đã dành hết thì giờ cho QNNT. Ngoài giờ dạy ông còn làm bất cứ việc gì trường cần, đặc biệt là xắp thời khóa biểu. Xắp thời khóa biểu là việc cực kỳ khó với trên một trăm giáo sư, mỗi người dạy một ít giờ tùy ý, phần nhiều là giờ thừa, giờ lồi và hay thay đổi.”

 

Tuy thày Can nhỏ hơn thày Liệu tới gần10 tuổi nhưng hai người vẫn đối xử với nhau trong tình bằng hữu thân ái và tôn trọng nhau. Tính thày Liệu vốn máu nóng và quá thẳng nên đôi khi dễ làm mất lòng người chung quanh, nhưng nhờ có thầy Can mềm mỏng khéo léo nên có thể làm dịu tình hình và tìm được cách giải quyết thích hợp cho tất cả các bên. Nhờ thế, dù trong một hoàn cảnh rất eo hẹp nhưng QNNT vẫn có thể hoạt động không kém một trường trung học trong điều kiện bình thường.

 

Cựu giáo sư Võ Hữu Cảnh

 

Võ Hữu Cảnh quen với Nguyễn Liệu sau khi ra tù Côn Đảo năm 1963. Ông cũng nhỏ tuổi hơn nhưng vẫn được Nguyễn Liệu coi là một người bạn thân thiết. Ngoài giờ dạy tại trường chính, thày Cảnh dành thì giờ còn lại để giúp QNNT môn Vạn Vật.

 

Thày Cảnh kể rằng kỷ luật của QNNT là rất nghiêm, nghiêm hơn các trường khác rất nhiều. Ví dụ ở đa số các trường, học sinh nói chuyện trong lớp chỉ bị bắt ngậm thước kẻ thì QNNT bắt phải ngậm cái dép, hay phải đi vòng quanh cột cờ ngoài trời nắng, còn nếu như phạm lỗi nặng hơn, học sinh dù tuổi đã lớn vẫn bị bắt nằm xuống và bị đánh bằng roi.

 

Thế nhưng, kỷ luật nghiêm khắc ấy đã giúp các học sinh nên người. Mãi về sau, học sinh QNNT vẫn giữ được những nề nếp cũ, như trong các buổi họp mặt, mọi người vẫn nhớ xếp xe đạp, xe gắn máy đều tăm tắp như trong bãi đậu xe trong sân trường ngày xưa.

 

Trong những năm gần đây, các cựu học sinh QNNT còn ở Việt Nam đã tìm lại với nhau. Nhiều người còn dẫn theo cả chồng hay vợ đến các buổi họp mặt như để chia xẻ với người bạn đời của mình về QNNT vì đó là một hạnh phúc, một tự hào hiếm có trong đời. Những “học trò ăn theo” này được mọi người trong đại gia đình QNNT ưu ái gọi là “dâu QNNT” hay “rể QNNT”.

 

Những người dâu, người rể QNNT cùng với những người con QNNT không họp lại với nhau chỉ đề ăn uống vui chơi mà để cùng nhau đền ơn đáp nghĩa những người thày đã từng một thời hy sinh cho họ. Đó có thể là sự thăm viếng những người thày già yếu bịnh hoạn, hay có thể là lo tang sự ma chay cho những người thày vĩnh viễn ra đi.

 

Cựu giáo sư Phạm Thị Hồng Hạnh

 

Có thể nói chính nhờ có mục tiêu “vì dân, vì nước” thực sự nên QNNT mới tạo được một sức hấp dẫn mãnh liệt. Rồi thì người này rủ người kia cùng đến với QNNT. Đó cũng chính là trường hợp của cô Phạm Thị Hồng Hạnh, cô được chồng là thày Võ Hữu Cảnh rủ cùng đến góp sức cho QNNT.

 

Khi đến với QNNT cô Hạnh vẫn còn trẻ lắm. Cô Hạnh dạy môn Anh Văn cho lớp 6. Nói là lớp 6 nhưng nhiều em đã sớm ra đời, to con, bặm trợn, quen thói ba gai, thấy cô giáo trẻ và nhỏ con nên coi thường, không giữ kỷ luật. Cô Hạnh phải học thuộc tên của từng em một. Các em tuy tỏ ra ngang ngạnh nhưng khi bị cô giáo gọi trúng tên thì không dám phá phách nữa. Lúc bấy giờ, thày dạy tiếng Anh rất hiếm, nên cô Hạnh dù rất bận rộn với giờ lên lớp ở trường chính và công việc của một người nội trợ trong gia đình cô Hạnh vẫn cố gắng dành thời giờ cho QNNT, có lẽ hiểu được sự hy sinh ấy của cô giáo, nên các em dần dà tự khép mình vào kỷ luật và gắng sức hơn.

 

Theo lời cô Hạnh kể thì Quảng Ngãi lúc bấy giờ rất không an ninh, thanh niên ở các vùng ngoại ô có thể bị Việt Cộng đến bắt đi vì không phải nơi nào cũng có lính VN Cộng Hòa đồn đóng . Thế nhưng trong tình hình bất ổn như thế các giáo sư của QNNT vẫn không sợ hãi, tất cả đều hăng hái, đều vui vẻ, dường như khi người ta chung sức làm việc vì một mục tiêu tốt đẹp thì người ta không còn cảm thấy lo lắng nữa.

 

Cựu học sinh Nguyễn Đạt và Nguyễn Thanh Chi

 

Nguyễn Đạt và Nguyễn Thanh Chi là 2 học sinh ưu tú của QNNT. Cả hai được nhà trường gởi vào Sài Gòn để tiếp tục học đại học. Nhận lời gởi gấm của QNNT, ông Trí Đăng, tức Nguyễn Liên, đà nhận nuôi ăn học 3 học sinh của trường.

 

Gia đình anh Đạt và Chi đều rất nghèo, vì thế khi được biết có một ngôi trường hoàn toàn miễn phí sắp mở thì cả hai đều vui mừng xin cha mẹ đến ghi danh cho đi học. Tuy lúc đó trường lớp mới chỉ là một bãi đất trống gạch ngói ngổn ngang chẳng đâu ra đâu nhưng chẳng hề gì, chỉ nghĩ tới cảnh được đến trường, được ngồi vào ghế, được học, là đã quá đủ cho Chi và Đạt .

 

Khi được hỏi cảm nghĩ về kỷ luật khe khắt của QNNT, Nguyễn Thanh Chi nói anh không lấy làm khó chịu vì cha anh vốn cũng là một ông bố rất nghiêm khắc, nhưng Nguyễn Đạt thì bảo anh quả có thấy khó chịu lúc ban đầu nhưng rồi dần quen đi, và về sau này, anh mới thấy nhớ ơn sự nghiêm khắc ấy của trường.

 

Với câu hỏi: “Có phải QNNT không phân biệt khi nhận hoc sinh, miễn nhà nghèo là được, còn không kể Quốc Gia hay Cộng Sản?”, anh Nguyễn Thanh Chi trả lời:

 

Đúng như thế, QNNT là một trường hoàn toàn miễn phí, bất vụ lợi, với mục đích giúp những con em gia đình nghèo khổ, bất hạnh, có cơ hội tiếp tục con đường học vấn, và với nguyện vọng đào tạo mầm non cho thế hệ sau. Khi nộp đơn xin vào trường QNNT, chính phụ huynh học sinh (hoặc nhờ một người khác biết chữ) viết đơn trình bày rỏ hoàn cảnh của từng gia đình để cứu xét, nhưng trường đặc biệt không phân biệt bên Quốc Gia hay Cộng Sản.

 

Thuở ấy chúng tôi còn vô tư và hồn nhiên, hàng ngày chỉ biết cắp sách đến trường chưa bao giờ hề nói chính trị, còn nhỏ biết gì đâu mà nói. Bạn bè trong lớp hầu hết từ những vùng nhà quê, từ những quận lỵ gần thị xã đổ về gặp gỡ tại mái trường thân yêu, nhưng chưa bao giờ thắc mắc gia đình đứa nào có liên hệ CS. Mãi sau này khi trở lại VN, trong chuyến họp bạn đầu tiên tôi mới biết những bạn có gia đình theo phía “bên kia”. Ngoài ra, chúng tôi luôn luôn được trường dạy bảo rằng: “Không được phân biệt tôn giáo, đảng phái, chính kiến.

 

Với câu hỏi: “Lúc đó thầy Liệu là người chống Cộng rất quyết liệt, anh Chi có biết không?”, Nguyễn Thanh Chi cho biết:

 

Không. Khi mới vào trường tôi hoàn toàn không biết gì về chuyện chống Cộng của thầy Nguyễn Liệu. Sau một thời gian tôi cũng có nghe người ta nói này nói kia nhưng vẫn không rõ. Lúc đó trong thâm tâm tôi nghĩ người ta có ý đồ cố ý phá trường QNNT, thế thôi. Tôi chỉ biết Thầy là người tốt, Thầy dám quên mình, quên vợ, quên con, quên ông bà thân phụ già, Thầy hy sinh tất cả công sức để lo cho xã hội, cho lý tưởng, Thầy gần gũi bạn bè và những người cùng chí hướng ngày đêm nhiều hơn là vợ con để lo cho QNNT được tồn tại, Thầy lấy vợ rất trễ, có con muộn, vào tù ra tội và rồi vượt biên. Sau một thời gian khá lâu gia đình Thầy mới được sống yên ổn tại Mỹ.

 

Tôi  vô cùng vui sướng khi thấy Thầy Cô còn  có  ngày sống hạnh phúc bên nhau, trời đất cũng không bạc đãi đối với những thiện nhân. Cô Ảnh, tức vợ Thầy, là một người đàn bà tuyệt vời, tuy Cô không có công với xã hội nhiều như Thầy nhưng Cô cũng đóng một vai trò khá quang trọng trong gia đình, Cô hỗ trợ tinh thần cho Thầy và chịu đựng kham khổ gánh vác mọi thứ khó khăn trong gia đình, nuôi nấng con cái thành tài.

 

Khi được hỏi: “Tinh thần QNNT có phải là về Việt Nam kiếm đất xây trường hay không?”, anh Nguyễn Đạt cho biết ý kiến như sau:

 

Theo mình nghĩ thì không cần thiết phải như thế. Tinh thần QNNT không có nghĩa là xây trường, dựng lớp, mà là xây dựng con người. Nếu như mình giúp một người hiếu học nhưng không có điều kiện thì khi người đó ra trường, thành công trong đời, họ có thể sẽ giúp những người khác. Và cứ như thế nhân rộng ra, giống như cái cây, chỉ một gốc nhưng có vô số cành lá.

 

Như một học sinh ban đầu bướng bỉnh nhưng trở thành một đứa con ưu tú của QNNT, anh Nguyễn Đạt không khỏi xúc động khi nhớ về trường cũ thân yêu, anh tâm sự:

 

Là học trò QNNT làm sao tôi quên được ngôi trường thân yêu, một ngôi trường đã cho tôi niềm tự hào. Quảng Ngãi Nghĩa Thục là học đường cũng là mái ấm gia đình.

 

Học sinh nghèo mỗi buổi sáng đến trường trong bộ đồ rất đơn giản quần xanh, áo trắng với phù hiệu QNNT. Nhưng nhìn qua hàng trăm học sinh đồng phục như nhau trông rất đẹp mắt và rất kỷ luật. Học trò QNNT rất biết giữ kỷ luật ở bất cứ nơi nào, trong khuôn viên của trường học sinh đến tượng cụ Lương Văn Can là tất cả dở nón ra chào rồi mới đi tiếp, khi gặp thầy cô hay người lớn là học sinh dừng lại, cúi đầu chào.

 

Mỗi buổi sáng thứ Hai chào quốc kỳ học sinh xắp hàng rất ngay thẳng, nhỏ trước lớn sau. Những người khách đi qua Quốc Lộ 1 đều dừng chân ngắm học sinh QNNT chào quốc kỳ nghiêm trang chỉnh tề. Họ không ngờ một ngôi trường nhỏ mà học sinh kỷ luật như vậy. Trong lớp ngoài trưởng lớp, phó trưởng lớp, còn có ban trật tự, thư ký. Tất cả đều làm việc hăng say trước khi giáo sư đến lớp dạy học. Nói chung, học sinh biết tự giữ an ninh trật tự của lớp khi lớp vắng thày hay thày chưa đến kịp.

 

Tôi nhớ đến các Thày Cô luôn luôn vui vẻ. Sự dạy dỗ của họ là nhiệt tâm và mong muốn các em được thành người hữu dụng cho xã hội. Tôi còn nhớ sau giờ dạy các Thày Cô còn ở lại trò chuyện với học sinh, có khi còn chơi bóng chuyền, đá banh, hay kể chuyện, ngâm thơ…

 

QNNT đã nuôi tôi khôn lớn, đã cho tôi tình thương loài người, dạy tôi tình thương yêu quê hương dân tộc. Mỗi lần nhắc tới QNNT, tôi đều nghĩ đến đời sống khổ sở của người dân Việt, của hàng ngàn trẻ em không có cơm ăn, áo mặc, không được đến trường. Tôi nghĩ đến vô số các em bé rất thông minh hiếu học nhưng chỉ vì nghèo quá phải xa lìa cha mẹ đi vào các thành phố lớn mưu sinh, đi bán báo, bán vé số, thậm chí làm những việc mà trẻ em trên các nước khác không bao giờ nghĩ đến. Tôi nghĩ đến tuổi trẻ và tương lai của quê hương tôi sẽ đi về đâu trong sự nghèo đói, thiếu học như hiện tại.

 

Thế hệ Thầy Cô của tôi đã hy sinh rất nhiều, dẹp bỏ danh vọng riêng tư, với tinh thần yêu đất nước thương dân đã dìu dắt lớp trẻ chúng tôi vươn lên, cho quê hương đổi mới, cho toàn dân được no ấm, thanh bình và tự do. Tôi và bạn đều biết và hiểu con đường Nghĩa Thục mà Thầy Cô, các Ân Nhân của QNNT chưa đạt được trọn vẹn nên con đường ấy cần được chúng ta tiếp bước.

 

Không phải chỉ những người nằm trong QNNT mới yêu ngôi trường ấy mà cả người ở ngoài nhìn vào cũng không khỏi xúc động. Nhà báo Bút Thép, tức Uyên Thao, trong “Phép Lạ Do Người”, bồi hồi kể lại:

 

Đặt chân vào Quảng Ngãi bây giờ, người ta bắt gặp những đám học sinh ăn mặc chỉnh tề trong sắc phục quần kaki xanh, áo sơ mi trắng với một băng màu xanh trên tay. Những đám học sinh này tuy hết thảy đều thuộc những gia đình nghèo khó nhưng mang trong cặp mắt ngây thơ trong sáng của tuổi trẻ một niềm kiêu hãnh ngấm ngầm: niềm kiêu hãnh là học sinh Quảng Ngãi Nghĩa Thục. Niềm kiêu hãnh này phải chăng đã tạo thành từ một ý thức minh bạch rằng hướng đường tương lai của các em được vạch sẵn là hướng đường phụng sự cho đất nước và dân tộc?

 

 

III – Đôi dòng cảm nghĩ của người viết

 

Như một người lớn lên sau chiến tranh Quốc-Cộng và thường nghe nhiều thông tin trái ngược nhau về Việt Nam Cộng Hòa, tôi thường cảm có cảm giác rất mơ hồ về giai đoạn này. Nhưng qua việc tìm hiểu về Quảng Ngãi Nghĩa Thục tôi mới nhận ra rằng dù có rất nhiều thiếu sót, tinh thần Tự Do của chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã là cái nôi bảo bọc cho rất nhiều điều tốt đẹp, mà Quảng Ngãi Nghĩa Thục là một.

 

Những năm 2000 này đây, có biết bao ngư dân Quảng Ngãi đã bị bắt, bị giết hại và con em của họ giờ này ra sao, có được cắp sách đến trường hay lại tiếp tục cảnh sống lê la đầu đường xó chợ? Người Việt khắp nơi chắc chắn không ngại xây dựng trường lớp cho các em, nhưng liệu một Quảng Ngãi Nghĩa Thục khác có thể tồn tại trong chế độ Cộng Sản?

 

Tìm kiếm trên mạng, bạn đọc chắc chắn sẽ không thấy được một vết tích gì về Quảng Ngãi Nghĩa Thục, phải chăng vì ngồi trường ấy chính là biểu tượng của một miền Nam hào sảng và từ tâm?

 

Bài viết về này chỉ là một nhắc lại, một gợi nhớ nhỏ bé về Quảng Ngãi Nghĩa Thục. Ước mong sao những cựu học sinh QNNT, rất nhiều người giờ đã thành đạt, sẽ tiếp nhau kể lại về ngôi trường ấy để góp phần bảo tồn một giai đoạn lịch sử đẹp đẽ của dân tộc và cũng là để khơi dậy tấm lòng biết hướng về tương lai đất nước.

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: