BÀN PHIẾM VỀ KHUÔN MẶT – Đào Đức Nhuận

BÀN PHIẾM VỀ KHUÔN MẶT

du

Trong cơ thể của con người, Khuôn Mặt là bộ phận được chúng ta, phái nam cũng như phái nữ, chăm chút, săn sóc thật kỹ lưỡng. Chẳng thế mà, trên các đài phát thanh, các đài truyền hình Việt ngữ, chúng ta vẫn nghe những quảng cáo thật hấp dẫn cho các thẩm mỹ viện về việc xăm môi, xăm chân mày, cắt mí mắt, sửa mũi, nâng cằm, tẩy mụn trứng cá…ra rả suốt ngày đêm.

Nhân dịp Xuân về, Tết đến, người viết xin được “Bàn phiếm về khuôn mặt” để gọi là “mua vui cũng được một vài…phút giây”.

Người xưa có thuật xem tướng, tướng giấu kín ở những nơi khó nhìn thấy và tướng lộ ra bên ngoài. Tướng lộ ra bên ngoài thì tướng mặt là quan trọng hơn cả: “Xem mặt mà bắt hình dung”. Muốn biết kẻ dữ, người hiền chỉ cần xem tướng mặt là biết ngay: “Lụa tốt xem biên, người hiền xem mặt. Dĩ nhiên không phải lúc nào cũng đúng!

            Đến như “ma” được xem như một thế lực vô hình ghê gớm lắm cũng chỉ dọa những kẻ yếu bóng vía chứ đối với những người không tin vào ma quỷ, “ma” cũng phải kiềng mặt “ma bắt coi mặt người ta” hay “Sơn ăn tùy mặt, ma bắt tùy người”. Con người đối với con người nào có khác gì. Có nhiều kẻ chỉ bắt nạt kẻ yếu, thân cô thế cô chứ nào dám bắt nạt những kẻ cương cường hay những người có thế lực.

“Coi mặt đặt tên” là cách ứng xử của những kẻ tùy thời, đối với kẻ giàu sang, quyền thế thì khúm núm, quỳ lụy, đối với người nghèo hay yếu thế thì hách dịch, lên mặt. Người xưa vẫn tin rằng “nhân hiền tại mạo”, người hiền lành tử tế biểu hiện nay trên nét mặt và dáng dấp đi đứng, “Lĩnh tốt xem biên, người hiền xem mặt”. Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều cô gái kén chồng thời xưa “xấu mặt dễ sai, đẹp trai khó khiến”.

Khuôn mặt đẹp là khuôn mặt trái soan, khuôn mặt cương nghị là khuôn mặt chữ điền:

miểng bầu ngó lâu muốn chưởi,

Mặt chữ điền tiền rưỡi cũng mua

            “Má miểng bầu” là má phúng phính của những người mặt thịt vẫn bị người xưa chê bai:

Những người phinh phính mặt mo

                        Chân đi chữ bát thì cho chẳng màng.

            Hay:

                        Những người mặt nạc đốm dày

                        Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn

            Người ta tin rằng những người đàn ông mặt vuông chữ điền là những người rắn rỏi, cương nghị, khôn ngoan và sẽ có cuộc đời hanh thông, thành đạt. Thế nhưng, giàu nghèo chưa hẳn hiện ra trên nét mặt. Những người mặt chữ điền chắc gì đã có số giàu sang, những người xấu xí đâu đã hẳn là những kẻ nghèo hèn:

Mặt mũi méo mó thì có đồng tiền,

                        Mặt vuông chữ điền đồng tiền không có.

            Vả lại đồng tiền cũng có cái ma lực riêng của nó:

Đồng tiền không phấn, không hồ

                        Đồng tiền khéo điểm, khéo tô mặt người

Ngày xưa khi chưa có thuốc chủng ngừa, dân ta thường mắc bệnh đậu mùa, một căn bệnh khi nặng có thể đưa đến tử vong, khi nhẹ có thể gây mù mắt và để lại những vết sẹo trên mặt mà ta thường gọi là mặt rỗ hoa. Mặt rỗ hoa dĩ nhiên là không đẹp, thế nhưng, trong tình yêu, đôi khi mặt rỗ hoa lại khiến cho người tình say mê:

Gió đưa đỏng đảnh lá tre

            Mặt rỗ hoa mè anh thấy anh thương

Màu nước da trên  mặt thay đổi tùy theo thái độ của con người, khi tức giận  máu dồn lền mặt làm cho nét mặt có màu đỏ tía, khi sợ sệt lại trở màu vàng nghệ:

Chưa đánh được người mặt đỏ như vang

            Đánh được người mặt vàng như nghệ.

Lại có câu:

            Chưa đánh được người mày xanh, mặt tía

            Đánh được người hồn vía lên mây!

Trong những đám “quan, hôn, tang, tế” sự hiện diện của khách được mời quan trọng hơn là món quà khách mang tặng, bởi lẽ sự có mặt của khách nói lên mối chân tình của khách đối với chủ nhân. Vả lại, vào thời xưa, công việc nông tang ít khi rảnh rỗi, nên ít có thì giờ để đến dự những đám giỗ chạp, vậy nên sự có mặt của ai đó trong buổi giỗ chạp thật là quan trọng: “một mặt hơn mười gói”. Tính mạng của con người mới quan trọng chứ của cải vật chất dù có nhiều bao nhiêu mà chủ nhân của nó không tồn tại cũng trở nên không quan trọng: “Một mặt người hơn mười mặt của”.

Nét mặt của con người cũng nói lên danh dự của một con người. Ta vẫn thường nói “giữ thể diện” là như vậy đó. Dưới đây là lời chê trách đối với những kẻ không biết giữ thể diện, không biết tôn trọng danh dự, nói lời rồi lại nuốt lời:

Thế gian còn mặt mũi nào

            Nhổ rồi lại liếm làm sao cho đành!

Nét mặt của con người cũng nói lên ý chí của con người:

Làm trai quyết chí tang bồng

            Sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam.

Đối với những người yêu nhau, xưa cũng như nay, sự xa cách khiến cho họ nhớ nhung bao nhiêu, nhu cầu muốn được gặp mặt cũng thúc bách bấy nhiêu:

Dù ai cho bạc cho vàng

            Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay.

            Dù ai cho nhẫn cầm tay

            Chẳng bằng thấy mặt chàng ngay bây giờ!

Hay:

Bấy lâu vắng mặt khát khao

            Bây giờ thấy mặt như trao lạng vàng.

            Nhu cầu được nhìn thấy mặt nhau dù chỉ trong phút giây ngắn ngủi cũng có giá trị giải tỏa mọi ẩn ức, mọi nỗi nhớ thương:

Em ơi, ngoảnh mặt lại đây

            Anh nhìn thấy mặt cho khuây tấm lòng

Gặp nhau rồi, đến khi sắp xa nhau họ cũng muốn được nhìn mặt nhau một lần nữa như muốn giữ lại bao nhiêu đắm say, bao nhiêu gắn bó trong phút giây gặp mặt:

Ra về tay nắm lấy tay

            Mặt nhìn lấy mặt, lòng say lấy lòng!

Có những anh chàng chỉ biết yêu trộm nhớ thầm, có cơ hội được gặp mặt người mình thương nhớ hồn vía lại lên mây chẳng dám hó hé nửa lời:

Thèm trầu mà chẳng dám xin

            Thương em mà chẳng dám nhìn mặt em!

Những người yêu nhau vẫn thường sợ tâm lý “xa mặt cách lòng”, khi gần bên nhau hứa hẹn những lời vàng đá như đinh đóng cột, nhưng khi xa nhau rồi đã vội quên những lời nguyện ước keo sơn. Hãy nhớ lấy lời người yêu căn dặn vì nàng cũng sợ như thế gian thường tình:

Anh về em nắm cổ tay

Em dặn câu này anh chớ có quên:

Đôi ta đã trót lời nguyền

Chớ xa xôi mặt mà quên mảng lòng.

            Dù đã căn dặn đến điều, nhưng nàng vẫn cứ sợ cái tâm lý “xa mặt cách lòng” của đám đàn ông, con trai:

Giờ đây anh nói anh thương

                        Đến khi vắng mặt, vấn vương nơi nào?

“Vấn vương nơi nào” thì chỉ có trời biết!

Trên khuôn mặt, trước tiên ta phải kể đến đôi MẮT. Thiên hạ vẫn bảo rằng “Đôi mắt là cửa ngõ của tâm hồn”!

Trời sinh con mắt là gương

                        Người ghét ít ngó, người thương ngó hoài

Người xưa xem tướng mắt ngộ lắm.

Nào là:

Người khôn con mắt đen sì

                        Người dại con mắt nửa chì, nửa thau

Nào là:

Những người ti hí mắt lươn,

                        Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người.

Lại còn cái tướng “con mắt lá khoai” nữa, đố biết hình thù nó như thế nào, nhưng ông bà ta xưa đã phán:

Chém cha con mắt lá khoai

                        Liếc chồng thì ít, liếc trai thì nhiều.

Đàn ông có đôi mắt lộ cũng bị xem là có tướng xấu:

Những người con mắt ốc nhồi

Có tài đánh vợ, đập nồi đập niêu

Người xưa quan niệm đôi mắt đẹp là “mắt lá răm”:

Những người con mắt lá răm

Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

            Mắt đẹp là “mắt phượng”:

                        Thấy em mắt phượng, môi son

Mày ngài, da tuyết đào non trên cành

Vậy nên anh muốn tự tình

Hỏi em quê quán, tính danh là gì?

Mắt đẹp là đôi “mắt bồ câu”:

Cầm vàng ném xuống vực sâu

Mất vàng không tiếc, tiếc đôi mắt bồ câu hữu tình!

            Người đẹp mà phải lâm vào cảnh trầm luân thì đáng ái ngại biết chừng nào:

…Tiếc thay mắt phượng mày ngài

Hồng nhan thế vậy nỡ hoài tấm thân!

Với đôi mắt hữu tình ai mà chả thương, nhất nữa lại là con mắt hữu tình của kẻ phòng không gối chiếc:

                        …Chín thương cô ở một mình

                        Mười thương con mắt hữu tình với ai

Người xưa đã ví cái nhìn của người đẹp thật kỳ lạ “sắc như dao cau”, có lẽ, cái nhìn của người đẹp có thể làm cho trái tim của người nam rỉ máu chăng?

Cổ tay em trắng như ngà

                        Con mắt em sắc như là dao cau.

            Đôi  mắt “sắc như là dao cau” ắt hẳn là đôi mắt của khách đa tình và đã đa tình quả là khó tu hành cho đến nơi đến chốn:

Trên thu ba dưới lại ba thu

                        Con mắt lúng liếng chẳng tu được nào!

            Đã có con mắt “lúng liếng” liếc dọc liếc ngang thì cũng có con mắt “lim dim” mang nỗi buồn khó tả:

                        Nhớ ai con mắt lim dim

                        Chân đi thất thểu như chim tha mồi

Trời sinh ra cặp mắt để nhìn. Vậy thì đã có mắt phải ngay thẳng một đàng mà đi, đừng “mắt la mày lét” mà bị thiên hạ chê cười:

Đã có con mắt xem đàng,

                        Có phải cận thị mà ngó quàng ngó quơ!

Cô gái gặp tình lang ở chốn đông người đâu có dám nhìm chàng trực diện mà chỉ dám “ngó nghiêng”:

Em gặp anh giữa chốn người đông

Giữa đường quan lộ em không dám chào

Hai bên họ đứng lao xao

Ngó nghiêng con mắt như chào người thương

            Hay chỉ “liếc qua” theo cái kiểu “liếc mắt đưa tình” mà thôi:

Yêu nhau con mắt liếc qua

                        Kẻo chúng bạn biết, kẻo cha mẹ ngờ

            Con mắt không phải chỉ để nhìn, để liếc, mà còn để khóc, để ngủ nữa chứ:

                        Nhớ ai em những khóc thầm

                        Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa!

            Hay:

                        Khăn thương nhớ ai

Khăn chùi nước mắt

Mắt thương nhớ ai

Mắt không ngủ yên…

            Còn phái đàn ông thấy mấy nàng thiếu phụ mới sinh con so, sắc đẹp vừa độ chín muồi thì nhìn sa đà, không còn biết trời trăng mây nước gì ráo trọi:“Gái một con trông mòn con mắt”.

Trẻ con thường háu ăn. Thấy món nào có thể ăn được dù nhiều bao nhiêu cũng nghĩ là mình sẽ ăn hết, ai có xin cũng không cho. Đến khi  ăn no nê rồi vẫn còn thừa, lúc bấy giờ mới chịu buông ra. Quả là “con mắt to hơn cái bụng”. Đó là tâm lý trẻ con. Còn người lớn lại phạm phải cái  tội “no bụng đói con mắt”. Ở đây không phải nói chuyện ăn uống mà nói đến bản chất tham lam của một hạng người, dù có bao nhiêu cũng không xem là đủ, thế nên thấy của ai cũng muốn vơ về cho mình!

Người nào biết nhìn xa, trông rộng sẽ dễ thành công trên bước đường làm ăn ; đã không có cặp mắt nhìn xa trông rộng mà lại làm biếng không muốn động đến chân tay thì nghèo là cái chắc. Người xưa đã nói “giàu hai con mắt, khó hai bàn tay” là như vậy đó. Thế nhưng, lại có người tin rằng mỗi con người đều có số, giàu nghèo cũng tại số, vùng vẫy cũng chẳng được gì:

Số giàu đem đến dửng dưng

                        Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu!

Tạo hóa cũng khéo thật. Giá chỉ là 2 hốc mắt trơn coi sao được. Thế nên, để làm dáng cho đôi mắt, tạo hóa phải bày thêm lông MÀY, lông MI và MÍ mắt. Nói đến các bà, các cô là nói đến đào mày liễu”, là nói đến mắt phượng, mày ngài”.

Chân mày vòng nguyệt thì thương,

Chân mày mũi mác là phường dâm ô!

            Đôi chân mày đẹp cũng đã từng làm xiêu lòng bao chàng trai si tình.

…Có rửa thì rửa chân tay

                        Chớ rửa chân mày chết cá ao anh

            Và đôi chân mày, cũng giống như nét mặt, có thể biểu lộ tình cảm buồn vui, hờn giận của con người qua sự biến đổi của màu sắc:

Cũng vì ai đêm nằm không ngủ

Cũng bởi vì ai mặt ủ, chân mày hường

Cũng bởi vì ai dật dựa ngoài đường

Cha mẹ la đánh thói thường cười chê

Hai bên khuôn mặt là đôi MÁ. Vì “gò làm khá người ta”, nên các bà, các cô chăm chút cho đôi gò má dữ lắm:

Lấy chồng cho đáng tấm chồng

            Bõ công trang điểm hồng, răng đen

Thế nên lúc nào các bà, các cô cũng phải chăm chút phấn môi son”. Vì cặp má hồng nên các chàng mới than thở:

Ai xui cái em hồng

Để anh nhác thấy đem lòng nhớ thương!

             Cũng vì cái gò má hồng dễ thương mà đã có anh chàng tán tỉnh một cách liều  lĩnh:

Thấy em gò hồng hồng

            Phải chi em đừng mắc cở, anh bồng anh hun!

Có nhiều chàng trai đem lòng “thương vay khóc mướn” ái ngại dùm cho bạn gái má hồng mà thở than:

Cô kia đỏ hồng hồng

Cô chưa lấy chồng còn đợi chờ ai?

Buồng không lần lữa hôm mai

Đầu xanh mấy chốc da mồi tóc sương?

            Thở than cho cô gái thấy sợ tương lai “đen tối” của mình, chàng trai mới tấn công:

                        hồng còn có khi phai

                        Răng đen khi nhạt, liệu bài đôi ta!

Đôi má có duyên là đôi má có lúm đồng tiền, nhất là đối với các cô con gái. Thế nên, người con gái có mười điều để cho người ta thương, trong đó “má lúm đồng tiền” được kể vào hàng  thứ ba:

Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương lúm đồng tiền…

Ngày xưa ông bà mình đâu biết “hôn môi”. Thương nhau tha thiết cũng chỉ hôn lên đôi má là cùng:

Bớ cô lúm đồng tiền,

                        Cho hun một cái đỡ ghiền khi xa

Nghe anh chàng năn nỉ sao mà tội nghiệp quá trời! Còn anh chàng này thì “nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt”:

Nước trong ai chẳng rửa chân

                        Cái trắng ngần ai chẳng muốn hôn!

            Đối với cánh đàn ông con trai, có diễm phúc nào hơn cái diễm phúc được kề vai sát má với người đẹp:

Còn đêm nay nữa mai đi

Lạng vàng không tiếc, tiếc khi ngồi kề

Còn đêm nay nữa mai về

Lạng vàng không tiếc, tiếc kề son

Phân đôi hai gò má là MŨI. Đây là tướng mũi:

Những người lỗ mũi hếch lên

Của xe chất lại một bên cũng nghèo

            Phân biệt cái đẹp, cái xấu cũng còn tùy thuộc vào yếu tố chủ quan. Khi người ta đã yêu, dù có xấu cũng trở thành đẹp:

Lỗ mũi mười tám gánh lông

                        Chồng yêu chồng b ảo tơ hồng trời cho

Dưới mũi là MIỆNG. Miệng còn gọi là MỒM.

Miệng của động vật có khi gọi là MỎ như mỏ chim, mỏ gà, mỏ vịt…có khi gọi là MÕM như mõm chó, mõm ngựa…

Miệng dùng để ăn, để nói, để khóc, để cười.

Miệng để ăn: Thừa hưởng một cơ nghiệp dù lớn đến đâu  chỉ biết ăn tiêu không biết làm lụng, chẳng mấy chốc cơ nghiệp đó cũng phải tiêu tan, vì miệng ăn núi lở”. Vậy nên, để giữ vững cơ nghiệp, biết làm đã đành mà cũng còn phải biết tiêu pha dè xẻn, không thể vung tay quá trán: “Buôn tàu, buôn bè không bằng dè miệng”. Dè đây tức là dè xẻn, tằn tiện. Phải biêt tính toán làm ăn chứ không thể ngồi chờ thời theo cái kiểu “há miệng chờ sung”.

Người xưa coi tướng miệng cũng ngộ lắm:

Nào là “miệng tu hú ăn lở rú, lở rí” ; nào là miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp”.

Nếu “con mắt là cửa ngõ của tâm hồn” thì, xin được “nối điêu” (!) “miệng là cửa ngõ của bao tử”. Cái miệng dễ làm tình làm tội con người ta lắm lắm. Ăn uống không kiêng khem dễ sinh ra bệnh tật. Không khéo ăn khéo nói dễ gây ra “vạ miệng”, Người  xưa vẫn  thường  nhắc nhở  chúng  ta “bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất” (bệnh theo lỗ miệng mà vào, tai họa do cái miệng mà ra). Thế nên ăn uống phải biết tự chế, bởi vì:

Miêng ki cóp trôn tán tài

Miệng khoan thai trôn thư thả.

            Miệng để nói: Nhưng nói cũng phải biết “giữ mồm giữ miệng đừng bạ đâu nói đó rước họa vào thân. Đừng bao giờ để cho bọn người xấu lung lạc mua chuộc để đến nỗi khi chúng gây điều ác mình lại không dám lên tiếng tố giác vì “miệng mắc quai”.

Thiên hạ cũng sợ hạng người làm thì vụng về nhưng khéo lấy mồm miệng để chống chế, không làm được việc gì nhưng có tài ăn nói khoa trương, đó là hạng người chỉ khéo dùng mồm miệng đỡ chân tay”.

Dân ta rất ghét những con người chỉ biết buông những lời độc địa, vu oan giá họa cho người khác. Đó là hạng người miệng hùm nọc rắn”, bọn người “miệng lằn lưỡi mối”. Thiên hạ rất sợ hạng người mồm loa, mép giải” vì hạng người này vừa lắm lời, vừa đanh đá, hễ mở miệng ra là nói lấy được, không kể gì là đúng là sai. Thiên hạ cũng không ưa gì hạng người mồm năm miệng mười” nói liên u bất tận chẳng cho ai chen lời. Thiên hạ cũng chẳng thích gì hạng người miệng hùm gan sứa” vì hạng người này lúc bình thường tỏ ra mình là anh hùng, nhưng đến khi lâm sự lại sợ vãi đái ra quần, chạy trước “vắt giò lên cổ”. Thiên hạ cũng ngán hạng người “khẩu Phật tâm xà” miệng nam mô bồ tát, giấu giáo mác sau lưng”,miệng nam mô, bụng một bồ dao găm”.

Hay:    Lỗ miệng thì tụng nam mô

Trong lòng thì chứa một bồ dao găm

Thiên hạ cũng rất sợ hạng người “miệng thơn thớt, dạ ớt ngâm”, vì hạng người này khó lường lắm, nói thì ngọt như mía lùi nhưng lại ưa đâm sau lưng thiên hạ. Dân ta cũng không ưa gì các người ỷ vào quyền thế mỗi lần nói ra như là ra lệnh buộc mọi người phải răm rắp tuân theo: miệng nhà quan có gang, có thép”. Chính vì ghét hạng người này dân ta đã có một vế đối độc địa để trêu tức bọn “nhà quan” hách dịch này: “Đồ nhà khó vừa nhọ, vừa thâm”. Lấy miệng nhà quan” đối với đồ nhà khó”, ai dám bảo giới bình dân của ta không thâm!

Những người hay nói những điều gở, những điều xui, người ta bảo là miệng ăn mắm, ăn muối”.

Tiếng tốt, tiếng xấu của một người, hay của một tập thể được nhắc nhở, truyền tụng trong dân gian gọi là “bia miệng”. Có người cho rằng “tiếng nói bay đi, chữ ghi còn lại”, trái ngược với quan niệm này, ông bà ta ngày xưa cho rằng:

Trăm năm bia đá thì mòn

            Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ

Sống là sống cho mình nhưng lại sống với mọi người. Đã sống với mọi người ta phải luôn luôn sống sao cho phải đạo, đừng gây điều tiếng gì để cho thiên hạ phải đàm tiếu. Không ai có thể ngăn chặn được lời đàm tiếu của bàn dân thiên hạ: “Giữ miệng lọ, ai giữ được miệng họ hàng”.

Trong gia đình ngày xưa, con cháu sợ nhất là bà cô (bà o), bà dì khó tính. Các bà ấy thường xoi mói, bắt khoan bắt nhặt con cháu đủ điều, nhất là hàng cháu dâu, không ai có thể cản được:

Bưng được miệng hũ, miệng vò

            Nào ai bưng được miệng o, miệng dì.

Hay:

            Một trăm ông chú không lo

            Lo vì một nỗi mụ o nỏ mồm.

Óc “trọng nam khinh nữ” của các cụ ta ngày xưa cũng quá quắt lắm. Bao nhiêu điều tốt giành hết cho cánh đàn ông con trai, bao nhiêu điều xấu đổ hết cho cánh đàn bà con gái:

Nào là:

Đàn ông rộng miệng thì tài

                        Đàn bà rộng miệng điếc tai láng giềng

Nào là:

Đàn ông rộng miệng thì sang

                        Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà.

Miệng để khóc để cười:

                        Làm người có miệng, có môi

                        Khi buồn thì khóc, khi vui thì cười.

Nụ cười, nhất là những nụ cười có duyên dễ gây cảm tình với người khác, nhất là nụ cười của người nữ đối với người nam:

Bới tóc cánh tiên bỏ vòng lá liễu

Thấy miệng em cười trời biểu anh thương

            Hay:

Tóc em dài em cài hoa thiên lý

Thấy miệng em cười hữu ý anh thương

            Khi cười phải thật là vui dù trong lòng ruột héo gan xàu như trong trường hợp của người vợ thuở xưa:

Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười hớn hở, rằng: Anh giận gì?

Anh ơi! Anh giận em chi

Muốn cưới vợ bé em thì cưới cho!

            Có những nụ cười thật đẹp, thật dễ thương:

                        Em là con út trong nhà

Lời ăn tiếng nói thật là khoan thai

Miệng em cười như cánh hoa nhài

Như nụ hoa quế, như tai hoa hồng

thì cũng co những nụ cười thật dễ ghét:

                        Tưởng rằng chị ngã em nâng

                        Ai ngờ chị ngã em bưng miệng cười

            Có những nụ cười có thể hóa giải mọi nỗi tức giận, buồn phiền trong lòng người như cơn gió mát thổi tan đi bao oi bức:

                        Răng đen nhoẻn miệng em cười

                        Dẫu trời đương nực cũng nguôi cơn nồng

Thế nên nụ cười, dù chỉ là nụ cười nửa miệng cũng có thể tạo được chút niềm vui cho người mình thương yêu:

                        Đêm năm  canh, ngày sáu khắc chàng ôi

                        Chàng cười nửa miệng, thiếp tôi vui lòng!

Bàn đến miệng phải bàn đến MÔI và MÉP.

Để chỉ hạng người ăn nói khoác lác, ở đâu cũng thích ba hoa chích chòe để chứng tỏ ta đây có tài ăn nói, ta có câu “khua môi múa mỏ” hay “khua môi m úa mép”.

Môi là bộ phận bên ngoài của miệng che chở cho răng, lưỡi. Môi không kín (hở) dĩ nhiên gió lùa vào làm cho răng bị lạnh: môi hở răng lạnh”. Đây có ý khuyên những người cùng ruột rà thân thích phải biết bênh vực, bảo vệ cho nhau, rộng ra là bà con chòm xóm, láng giềng cũng phải biết thương yêu, đùm bọc nhau, không để kẽ hở nào cho kẻ xấu lợi  dụng gây chia rẽ.

Tục ăn trầu của ông bà ta xưa cũng đã tạo ra đôi má hồng, đôi môi đỏ trông dễ thương và tình tứ lắm chứ. Chính vì dễ thương và tình tứ như vậy nên, giữa nam ntrẻ tuổi,  đã mời trầu cho nhau ăn tức cũng như đã trao tình cảm cho nhau, thế nên:

Từ ngày ăn phải miếng trầu

            Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu

Ăn trầu thì phải có trầu, cau vôi, thiếu một trong ba thứ làm sao tạo nên miếng trầu để ăn cho được. Ngày xưa cha mẹ thường dặn con gái “làm thân con gái chớ ăn trầu ngươi”, vậy mà đã có nàng con gái dám “bắt đền” chàng trai của lòng mình như thế này:

Có trầu mà chẳng có cau

            Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm?

Tướng “môi” cũng được người xưa xem kỹ lắm:

Mỏng môi hay hớt, trớt môi hay hờn

Hoặc:

Môi dày ăn vụng đã xong

Môi mỏng hay hớt, môi cong hay hờn.

 

Xem như trên đủ biết khuôn mặt quan trọng lắm. Vì vậy, quý bà và quý ông đã phải tốn khá nhiều thì giờ để lo trau chuốt cho khuôn mặt của mình. Các ông phải làm sao cho mày râu nhẵn nhụi”. Các bà  phải làm sao cho mặt hoa da phấn”,  phải trang điểm phấn, môi son”. Chăm chút quá đến nỗi cụ Đồ Liên, một cụ Đồ thời Nho học, đã phải làm thơ “khen ngợi”.

 

MỎNG NHẤT MẶT ĐÀN BÀ

 

Mặt các cô sao vẫn mỏng quèn?

Hay là bà mụ nặn không nên.

Tốn bao son phấn tô vào mãi

Chẳng thấy xương da mọc nữa lên.

Trẻ vẫn gia công bôi với trát,

Già còn đái tật lóm và đen.

Từ nay có muốn thêm đầy đặn

Đừng rửa, đừng chùi, cứ để nguyên.

 

DÀY NHẤT MẶT ĐÀN ÔNG

 

Mười hai bà mụ vụng về thay

Nặn mặt đàn ông cũng quá tay

Dao kéo cắt luôn nào thấy khuyết

Râu ria cạo mãi vẫn còn đầy

Trơ mà đến nỗi băm không lỗ

Rắn quá như ai vạc vẫn dày

Nếu để tự nhiên thây kệ nó

Dễ thường mọc lấp mất mồm ngay!

 

Thôi thì, dù có “dày như mặt đàn ông” hay có “mỏng như mặt đàn bà” gì gì đi nữa, khuôn mặt của chúng ta cũng đáng được trân trọng, vẫn cần được trân trọng để ta còn dám tự hào “ngước mặt nhìn lên” “mở mặt mở mày với thiên hạ.

Để kết thúc, người viết xin mượn một vế đối dí dỏm của nhà thơ Thế Lữ (1907-1989) để cầu chúc bà con mình trong dịp Xuân về:

“Mới me mừng mợ mạnh, mỹ miều mà mở mặt môn mi”.

 

 

ĐÀO ĐỨC NHUẬN

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: