LÃO XÀ ÍCH VÀ CON NGỰA GIÀ – Truyện ngắn Thanh Thương Hoàng

nguaLÃO XÀ ÍCH VÀ CON NGỰA GIÀ

 

Truyện ngắn THANH THƯƠNG HOÀNG

 

Lão xà ích nằm trằn trọc mãi trên tấm ván ngựa nhỏ cũ kỹ không tài nào ngủ nổi. Bao nhiêu năm tháng trôi qua tàn lụi trên cuộc đời lão. Hết nằm nghiêng bên phải tới nằm nghiêng bên trái, hết duỗi tay lại duỗi chân, thở ngắn than dài. Bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu sự việc vui có buồn có từ đâu ào ào kéo tới, xuất hiện trong trí nhớ lờ mờ của lão như một cuốn phim quay chậm thoáng ẩn thoáng hiện, chợt đến chợt đi. Lão cố xua đuổi nhưng nào xua được. Càng đuổi nó càng thi nhau ùa đến. Lão bực mình nhỏm dậy lấy gói thuốc rê vấn hút. Bây giờ có lẽ đã quá nửa đêm. Bầu trời tối đen như mực. Tiếng cú kêu từ xa vẳng lại. Người ta bảo cú kêu là điềm xấu đấy. Lão tự nhủ, nhổ nước bọt, rời ván ngựa bước ra ngoài tới bên chái lều nơi trú của con ngựa. Căn lều nhỏ lợp lá dừa chia hai: một cho chủ một cho ngựa. Chỗ dành cho ngựa thấp tè – cao hơn nó chút đỉnh. Ngựa nghe tiếng động biết chủ uể oải đứng lên, cái đuôi phất phất nhẹ hai bên mông. À thì ra mày cũng như tao không ngủ được. Tao thương mày lắm ngựa ơi. Tao đâu muốn làm khổ mày, chẳng qua tại cái số tao mạt rệp. Tao cũng chẳng còn nhớ thầy trò mình bao nhiêu tuổi đời, tất nhiên mày nhỏ hơn tao nhiều. Tao không vợ con họ hàng thân thích, mày cũng vậy. À không, tao có bồ. Cô bồ tao xinh đẹp lắm. Bữa nào rãnh rỗi tao kể mày nghe. Hôm nay thầy trò mình xui tận mạng. Thôi ráng ngủ đi nghe con. Ngủ lấy sức mai thầy trò mình lại đi kiếm ăn. Hừ, ngày chỉ cần hai bữa ăn mà cũng vô cùng vất vả lao đao lận đận.

 

**

Một buổi sáng mùa nắng,mặt trời mới lên đã oi ả nóng nực, Như mọi ngày lão xà ích rời túp lều nhỏ thắng bộ yên cương vào mình ngựa rồi đánh cỗ xe thổ mộ tồi tàn cũ kỹ ra chợ đón khách. Mới khoảng bẩy giờ chợ đã đông người các nơi qua lại. Một bà tuổi trung niên đến bên lão hỏi: “Đi không?”. Lão không trả lời, hỏi lại: “Xa không ?”. Bà khách lườm buông tiếng: ” Xa”. Hồi này đường quốc lộ thường xuyên bị đào xới thành từng hố ngang dọc và đặt mìn nên người ta đổ dồn đi xe ngựa theo con đường đất. Tuy hơi xa lại gồ ghề sống trâu xóc lên xóc xuống nhưng an toàn mạng sống. Đã lâu lắm rồi tuy chiến sự chưa lan tới vùng này nhưng thường xuyên diễn ra bất an vì “mấy ảnh” cứ vài ba đêm từ bưng mò về làng phối hợp với bọn nằm vùng khi thu gom lương thực khi bắt nộp thuế khi hội họp dân xóm giải thích đường lối chính sách của mặt trận, của đảng. Vài ngày họ ra đường lớn đào hố, đặt mìn để nổ xe quân đội cộng hòa đi qua. Thoạt đầu toàn xe đò tư nhân bị nổ làm nhiều người chết bị thương. Còn xe quân đội trước khi đi họ cho dò mìn nên chẳng có gì xẩy ra. Nhờ việc phá đường đặt mìn này lão xà ích có khách hơn trước, không kể mùa mưa. Tiếng người khách hỏi tiếp:”Có đi không thì nói?”. “Đi chớ nhưng đi đâu?”. “Núi Ông”. “Núi Ông?”. Từ đây tới đó xa quá đường lại khó đi, lão xà ích ngần ngại, nói:”Đây tới đó cũng mất cả buổi, thôi hổng đi đâu”. Bà khách ra giá:     ” Một ngàn chịu không?”. “Phải hai ngàn”. “Mắc vậy cha!”. Tuy nói thế nhưng cả gia đình họ vẫn lên xe. Họ phải đến nơi đúng ngày giờ kịp giỗ tổ, nhất là xum họp bà con họ hàng mỗi năm mới có một lần. Chiến tranh làm gia tộc họ phân tán nhiều nơi nhưng vẫn giữ lệ cũ. Gia đình sáu người ngồi lên cỗ xe thổ mộ ọp ẹp, chật ních. Lão xà ích  đánh lưỡi chặc chặc rồi đưa roi quất khẽ vào mông con ngựa già ra lệnh cất vó.

Con đường đất độc đạo chạy dưới chân núi gập ghềnh sống trâu làm xe xóc lên xóc xuống, ngả nghiêng nghiêng ngả. Lọc cọc lọc cọc, hai bánh xe có niền sắt rên rỉ trên mặt đường. Tiếng lục lạc nơi cổ ngựa phát tiếng kêu leng keng nhanh chậm theo vó ngựa. Con ngựa mới chạy mươi cây số đã thở phì phì mệt nhọc. Nó già rồi, hơn mười năm theo chủ chạy xe chưa một ngày ngơi nghỉ. Những năm sau này cuộc mưu sinh của người và ngựa càng thêm long đong vất vả. Ôi cái thời oanh liệt xa xưa khi nó còn tràn đầy sinh lực nơi trường đua với những thành tích oanh liệt.                                                                                                                                 Hai đứa trẻ kêu đói bà khách mở bọc vải lấy ra mấy ổ bánh mì mềm xèo như nhúng nước. Nghe hai đứa nhai nhóp nhép làm lão xà ích phát thèm. Lão nuốt nước bọt đánh ực. Đã lâu, từ khi rời bỏ thành phố lão không được ăn thứ thực phẩm này. Sáng nào cũng chỉ vài cái bắp ngô nhỏ luộc hay một hai khúc khoai mì. Ít lâu nay nhiều buổi sáng lão phải uống nước lã cầm hơi, vì cả ngày chẳng có ai đi xe. Sở dĩ có tình cảnh như vậy là tại mấy tháng nay cả vùng trở nên bất ổn. Ban đêm bọn du kích thường xuyên quậy phá bắt người ám sát, ban ngày binh lính cộng hòa hành quân tảo thanh làm dân hoang mang chán nản sợ hãi chẳng còn bình tâm lo việc canh tác, ruộng vườn bỏ phế, mọi người trở nên túng thiếu, lão xà ích ảnh hưởng lây. Nhiều buổi họ đi xe chịu lão cũng không dám kèo nèo gây sự, nếu như khi xưa là có chuyện ngay. Tính lão vốn nóng nẩy, trực tính.                                                                                                                             Càng về trưa trời càng nóng nực như đổ lửa, mọi người mồ hôi nhễ nhại mệt mỏi. Xe chạy khoảng mười cây số tới một quán lá bên đường, theo yêu cầu của khách, xe dừng lại nghỉ. Nhìn mồ hôi toát nhễ nhại trên lưng ngựa, lão xà ích có nén thở dài vỗ vỗ vào mông nó nói như nói với người: “Mệt lắm hả? Thôi ráng đi rồi tao kiếm đồ bồi dưỡng cho mày”. Thực ra là lão dụ khị con ngựa chứ kiếm đâu ra đồ bồi dưỡng. Nhưng thật may, lão chợt nhìn thấy sau quán có một ụ rơm nhỏ liền săm săm bước tới rút mấy nắm mang ra cho ngựa, mặc bà chủ quán la lối. Con ngựa già ve vẩy cái đuôi ra điều biết ơn chủ. Bà khách thuê xe có vẻ thương tình lấy trong bọc một nắm cơm nhỏ đưa lão xà ích. Lão cảm động lắm, “một miếng khi đói bằng gói khi no” mà! Lão nhủ thầm khi nhận tiền sẽ bớt cho họ một trăm. Ăn uống nghỉ ngơi chốc lát họ lên xe đi tiếp. Con ngựa già uể oải cất vó. Lão xà ích không ngờ con đường lại xa và khó đi đến thế. Ngày trước lão có đưa khách đến nơi này một lần. Vì khi đó lão trẻ sức trai còn mạnh, nhất là con ngựa vẫn còn phong độ nên không thấy đường xa. Lão mệt mỏi cất tiếng phàn nàn với khách tỏ ý muốn bỏ cuộc, trả tiền hay không cũng được. Bà khách tưởng lão giở trò vòi vĩnh muốn đòi thêm tiền làm lão bực mình cáu gắt: “Không phải vậy. Tui mệt lắm rồi!”. Tuy nói thế nhưng lão vẫn tiếp tục cho ngựa rong ruổi. Mãi xế chiều mới tới nơi – một xóm nhỏ hẻo lánh nằm bên  khu rừng thưa. Khách cho thêm tiền nhưng lão khẳng khái từ chối và mặc cho chủ nhà giữ lại đãi bữa ăn, lão không muốn người ta thương hại bố thí, nại lý do trời sắp đổ tối. Cầm mấy tờ giấy bạc tiền công, uống ngụm nước lã, còn ngựa được bồi dưỡng vài nắm rơm, lão xà ích đánh xe thổ mộ quay về. Đi được vài cây số mặt trời đã ngả về phương Tây.  Lão xà ích chợt nhớ ra một con đường tắt có thể về nhà sớm hơn, lão quay xe nói an ủi ngựa: ” Thôi ráng đi con, về nhà cha con mình nghỉ ngơi thoải mái. Tao sẽ cho mày ăn một bữa thật no. Lâu lắm mới vớ một món bở con ạ”. Ngựa gục gặc đầu như biểu đồng tình.

Con đường tắt này lâu nay ít người qua lại nên hoang vắng, cây dại nhiều chỗ cành lá chìa ra che lấp cả mặt đường nhỏ làm ngựa cất bước khó khăn chậm chạp kéo lê lết cỗ xe. Người ngựa đều mệt nhoài. Đến một khúc quẹo lão xà ích vừa giật cương ngựa thì trước mặt lão xuất hiện một gã đàn ông cao lớn mặc bộ bà ba đen đã bạc mầu, râu ria xồm xoàm, tay cầm con dao rừng dài. Nhìn mặt mũi bậm trợn dữ dằn của nó, lão xà ích biết ngay là tên bất lương. Nó nhìn lão chằm chằm, cất tiếng nói ồm ồm: “Cho đi nhờ một quãng nghe lão già”. Chẳng cần đợi lão đồng ý hay không nó nhẩy phốc lên xe ngồi nhe hàm răng to vàng khè nham nhở cười. Thân mình to lớn nặng nề của nó đặt mạnh xuống băng ghế gỗ làm xe phát tiếng rên cót két. Đi một quãng nó cất tiếng hỏi lão: “Thế nào, hồi này làm ăn có khá không?”. Lão xà ích nhổ bọt xuống đường: “Không chết đói là may. Sức mấy mà khá”. “Sao biểu người chạy loạn đông, lão đánh xe cả buổi không hết việc?”. Lão xà ích đưa mắt lừ nó: “Thế còn anh? Anh mần chi ở đây?”. Tên bặm trợn cất tiếng cười khả ố: “Tui ở đây đón đường khách”. Lão xà ích có vẻ nghi ngờ: “Đón đường khách? Để mần chi?  “Thì cướp của chớ mần chi!”. “E hè”. Lão xà ích trừng mắt nhìn nó gằn giọng: “Cướp của?”. “Đúng vậy. Thôi, nói thật với lão từ sáng tới giờ đứng chờ ở đây, lão là người khách đầu tiên đó. Hồi này mần ăn khó khăn. Lão đưa tui mượn chút tiền, khi nào trúng mánh lớn trả lại”. Lão xà ích quắc mắt nhìn tên cướp cạn, thằng khốn này thiệt to gan. Lão trợn mắt nghiến răng nói như rít: “Tao làm gì có tiền đưa mày!”. Thằng cướp cạn cất tiếng cười nham nhở: “Tui biết lão vừa đưa khách về. Thôi nể mặt già lão đưa tiền tui, êm mọi việc. Nếu không chịu thì mất cả xe lẫn ngựa đó. Con ngựa này tuy gầy nhom đem xẻ thịt cũng no bụng ít bữa. Tui nhân từ nên để đường lão mần ăn”. Dứt lời nó đưa hai cánh tay hộ pháp đặt lên vai lão giật mạnh. Lão bắt buộc ngừng xe tìm cách đối phó. Thằng cướp cạn liền lật ngửa lão và đưa tay bóp cổ  “Đưa tiền đây”. Trong lúc lão xà ích chưa biết phản ứng sao tên cướp đã giật cái túi áo trước ngực của lão lôi ra mấy tờ giấy bạc, cất tiếng cười khè khè khả ố: “À hà, khá đây”.  Nó cầm tiền nhẩy khỏi xe bước đi. Lão xà ích giương đôi mắt căm hờn nhìn tên cướp cạn xa dần. Trước khi khuất nẻo nó còn giơ tay vẫy vẫy chào biệt lão. “Thằng trời đánh. Quân lưu manh. Đồ cướp cạn bất lương!”. Lão xà ích cất tiếng nguyền rủa rồi nhìn theo bóng tên cướp nhổ nước miếng. Thế là hết công lao một ngày cực nhọc vất vả mưu sinh. Lão than thầm, hết nhìn trời đất, nhìn quãng đường xa heo hút còn lại, nhìn con ngựa già đang đứng cúi đầu thở dốc. Nó như thông cảm nỗi bực tức căm phẫn của chủ, đưa hai vó trước cào cào mặt đất. Lão xà ích rời xe đến trước đầu ngựa, tay gãi gãi nhẹ vào cổ nó an ủi. Lão nói như rên: “Tao thương mày lắm. Mày mệt, đói hả? Tao cũng vậy. Số phận cha con mình thật hẩm hiu lênh đênh mạt rệp. Đã nghèo lại còn mắc cái eo. Có tiền bỏ vào túi vẫn bị cướp mất. Cả một ngày thầy trò mình vất vả cực nhọc trở thành công cốc lại còn suýt bị hại vì thằng bất lương. Trời ơi! Sao ông ác nghiệt đa đoan thế này! Lão oán trách trời, oán trách người. Lão ngồi bệt xuống bên vệ đường mở gói thuốc rê vấn hút.

Giờ lâu chủ tớ lại lên đường. Đánh vật mãi với con đường đất nhỏ gồ ghề nhấp nhô lồi lõm, tối mịt mới về tới căn lều tồi tàn đã che mưa nắng cho người và ngựa bao năm đằng đẵng. Xóm nghèo im lìm trong bóng đêm lặng lẽ vắng ngắt. Lão xà ích vét hết chỗ cám còn lại trộn nước trong máng gỗ cho ngựa ăn, còn lão nuốt xong chút cơm nguội dư bữa trước rồi thả mình nằm trên tấm ván ngựa. Nhưng cả đêm đó lão không tài nào nhắm mắt ngủ nổi. Dĩ vãng hiện tại quay mòng mòng vật lộn nhau trong cái đầu già nua của lão. Than ôi, mới đấy mà đã quá nửa đời người!  Biết bao vật đổi sao rời mà tại sao lão vẫn là lão, vẫn là thằng xà ích nghèo rớt mồng tơi. Người ta bảo cách mạng đánh Mỹ Ngụy dành cơm no áo ấm cho dân nghèo vô sản. Những ngày đầu như mọi người, lão “hồ hởi phấn khởi” tin tưởng lắm. Lão chờ mãi cuộc đổi đời. Thế mà…

 

**

Năm đó thằng Ba – mọi người quen gọi là “thằng Ba trời ơi” vì nó hay kêu trời, vui cũng kêu buồn cũng kêu – đúng 13 tuổi  mẹ mất. Bà con lối xóm thương tình mỗi người góp một ít đủ cho thằng Ba chôn cất mẹ. Nó mồ côi cha từ năm hai tuổi. Trong lúc nó chưa biết mưu sinh bằng cách nào thì thật may mắn: có chú Sáu từ Saigon về quê chơi. Nghe bà con kể hoàn cảnh thằng Ba, chú Sáu vui vẻ nói: “Tui có việc cho nó đây. Chẳng là ông bạn tui ở Saigon làm chủ mấy con ngựa đua, tháng vừa rồi một thằng nài bị té ngựa gẫy cẳng sao đó nên đang thiếu một đứa thay thế”. Quan sát thằng Ba từ đầu đến chân, chú Sáu gật gù: “Nhỏ con, mặt mũi có vẻ lanh lợi, được đấy! ?”. Thế là thằng Ba được đưa lên Saigon “mần việc”. Sau khi hỏi tên tuổi và cân nặng nhẹ xem có đủ tiêu chuẩn làm nài không, ông chủ ưng liền. Cuộc đời thằng Ba bắt đầu “sự nghiệp” từ đây. Qua mấy tháng vất vả tập tành với con ngựa ô có tên là Phi Long, thằng Ba được đưa ra trường đua tham dự cuộc đua đầu tiên trong đời. Ông chủ không trông mong gì nó thắng, chỉ muốn cho nó quen với đấu trường. Biết nài mới ngựa mới ra quân nên các tay tổ và dân mê cá ngựa không ai “bắt” con Phi Long. Thật bất ngờ, con Phi Long vào những giây phút chót phi nước kiệu về hạng ba. Ông chủ thằng Ba thắng lớn. Từ đấy các tay chơi cá độ bắt đầu chú ý tới con Phi Long và thằng nài Ba. Lúc dắt ngựa ra mấy thằng nài cũ – cũng là đệ tử của ông chủ ngựa – nhìn thằng Ba với vẻ mặt tức tối. Có thằng lại còn giơ nắm đấm dứ dứ trước mặt nó. Thằng Ba ngạc nhiên lắm. Mình có làm gì đâu mà bọn nó lại có vẻ giận dữ vậy. Về nhà, thằng Ba vẫn ở nhờ nhà chú Sáu, được chú giải thích nó mới biết bài học vỡ lòng đầu đời: hơn người thì người ghét, thua người thì người khinh. “Trời ơi, sự đời sao mà lí lách vậy!”. Thằng Ba kêu thầm trong bụng.

Kể từ buổi đạt chiến thắng không mong đợi, thằng Ba được ông chủ tận tình rèn luyện và chỉ bảo tất cả mánh khóe nơi trường đua. Những đứa trẻ con nhà nghèo mồ côi cha mẹ thường khôn lanh hơn những đứa cùng lứa tuổi. Thằng Ba chẳng bao lâu trở thành gà nòi của ông chủ ngựa đua Rô Be Bẩy. Ông này là dân Tây (quốc tịch Pháp) nổi tiếng ăn chơi và cũng rất chịu chơi. Ông cho thằng Ba về sống trong ngôi biệt thự của mình, ở chung phòng với anh bếp nơi góc vườn. Căn biệt thự của ông Rô Be Bẩy rất đồ sộ, sau vườn hoa là một dẫy chuồng ngựa, có tất cả 5 con. Từ trước tới nay ngựa của ông chưa được một giải thưởng nào. Con ngựa Phi Long ông mới mua về mấy tháng. Người ta bảo con ngựa này có 4 vòng trắng nơi cổ chân tức tứ túc mai hoa thuộc loại quý. Ngày hai buổi thằng Ba cùng các bạn đồng nghề dắt ngựa ra trường đua tập tành. Mấy thằng kia không được ông chủ ưu đãi nên căm ghét thằng Ba tìm mọi cách “chơi”nó. Thằng Ba thản nhiên không quan tâm tới sự kèn cựa này, như lời anh bếp khuyên “mày được ông chủ cưng thì đách sợ đứa nào”. Một hôm trong lúc tập dượt một thằng nài cố tình chèn ép cho thằng Ba ngã làm con ngựa bị thương nhẹ, còn nó may không việc gì. Anh bếp xui nó méc với chủ nhưng nó không nói. Chính vì “nghĩa khí quân tử” này thằng Ba và thằng nọ trở thành đôi bạn thân kết nghĩa anh em. Con đường sự nghiệp của thằng Ba cứ thế thăng tiến. Trong cuộc đua sau đó con Phi Long về nhất giữa tiếng hò hét hoan hô vang trời của dân cá độ trường đua. Ông chủ Rô Be Bẩy được một số tiền lớn và tên tuổi ông cũng như thằng Ba trở thành đề tài bình luận sôi nổi của các tờ “nhựt trình”. Tất nhiên “thằng nài Ba” trở nên đắt giá được ông chủ biệt đãi về tiền bạc cũng như đời sống. Nhiều chủ đua ngựa muốn níu kéo mua chuộc nó nhưng nó một mực trung thành với chủ. Cứ thế thời gian trôi qua, thằng Ba và con Phi Long thường xuyên ra trường đấu lúc thắng lúc thua, nhưng khi nào cũng ở các hạng nhất, nhì, ba. Sau mấy năm lăn lộn trong nghề thằng Ba bị xếp vào hạng tuổi bắt đầu “già”sắp về vườn theo như quy định trường đua – nó được ông chủ ra lệnh cuộc đua tới bằng mọi cách phải thua. Nhưng lúc vào cuộc đua không biết vì nó hiếu thắng hay vì quên lời chủ dặn, đã thúc ngựa phi nước đại về nhất. Ông chủ Rô Be Bẩy hầm hầm tức giận. Về nhà, ông đấm đá đánh đập chửi bới thằng Ba thậm tệ rồi đuổi nó khỏi nhà. Nó chẳng hiểu chuyện gì xẩy ra đến nông nổi này, khóc nức nở van xin ông chủ nhưng không xong. Sau đó nó được một chủ ngựa đua khác đem về nuôi. Trong một cuộc đua nó đang dẫn đầu thì bị chính thằng bạn – mà nó kết làm anh em nơi chủ cũ – chèn ngang một cách nhà nghề làm nó ngã ngựa. Con ngựa bị trật móng bong khớp sau này thành tật, còn thằng Ba bị dập xương vai bắt buộc phải giải nghệ. Nó nghe nói ông chú nó thưa kiện vụ này. Còn nó được ông chủ thương tình bán cho con ngựa  bị thương tật với gía rẻ. Ông khuyên nó nên về quê đánh xe thổ mộ chở khách làm nghề mưu sinh. Thế là chấm dứt chuỗi ngày tháng “mần” nài đua ngựa của thằng “Ba trời ơi” nơi chốn phồn hoa đô hội.

 

**

Có được chút tiền dành dụm khi làm nài đua, thằng Ba trời ơi về quê mua lại một cỗ xe thổ mộ cũ kỹ, già gần bằng tuổi nó và bắt đầu hành nghề chở khách chở hàng. Cuộc mưu sinh tuy  vật vả chật vật nhưng cũng đủ sống qua ngày. Với bản tính hiền lành – nhất là giá tiền nào nó cũng sẵn lòng đưa đón khách – nên được mọi người thương đi đâu cũng “ới” thằng Ba. Rồi năm 19, 20 tuổi (Ba không nhớ rõ) một cuộc tình đến với Ba: cô gái bán hàng rong, khách thường xuyên của Ba. “Con nhỏ” theo con mắt nhận xét của Ba xinh đẹp, hiền lành. Hai đứa thương nhau được khoảng nửa năm sắp đi tới việc ăn ở vợ chồng thì cô gái bất thần biệt tích. Ba đau khổ một thời gian khi nghe tin cô ta bỏ đồng quê lên Saigon mần nghề “bán ba”. Tình nghĩa thời buổi nay sao mà tệ bạc. Ba nhủ thầm. Lão thầy Bẩy trong làng chuyên bói toán tử vi nói thằng Ba năm nay gặp sao la hầu la hán gì đó xấu lắm. Quả đúng vậy. Vừa bị bồ bỏ ít ngày thằng Ba lại bị công an xã bắt giam mấy ngày rồi giải lên huyện giam giữ tra xét về “tội” làm liên lạc cho “mặt trận”. Sự thực buổi đó có người trong xóm nhờ Ba đưa giúp một gói đồ cho bà con ở thị xã. Ba đâu biết gói đó có gì bên trong nên cứ thành thật khai báo. Bị nhốt hơn tháng được tha. Con ngựa may có bà con lối xóm trông coi giúp. Một buổi tối về tới lều chưa kịp nghỉ ngơi ăn uống, bất thần mấy người vận đồ bà ba đen mang súng xông vào bắt trói Ba dẫn đi mãi trong rừng sâu. Trong số này Ba thấy có gã gửi đồ bữa trước. Thì ra đó là mấy “ảnh” trong bưng ra bắt Ba về “tội” chỉ điểm cho “ngụy” phá vỡ cơ sở. Bị giam giữ nơi rừng hơn năm, trải qua bao lần tra khảo thêm đói ăn bệnh hoạn, Ba mới được tha về, người chỉ còn da bọc xương. Tù quốc gia ăn cơm no có thịt cá rau, còn tù “mặt trận” trong bưng ăn toàn khoai mì với rau tầu bay mà cũng không được no. Hôm thả hai mắt Ba bị bịt kín, tay bị trói và thòng giây kéo đi, Ba sợ hãi tưởng họ mang đi bắn. Lội bộ cả buổi ra khỏi rừng “mấy ảnh” mới cởi trói bỏ miếng vải bịt mắt ra nói thả cho về. Hú hồn viá, Ba như người sống lại. Những đêm nằm tù Ba nhớ lại câu chuyện các cụ bô lão trong xóm kể, mấy mươi năm trước ông già của Ba cũng bị các quan Tây bắt tù vì “tội” nghèo quá không có tiền đóng thuế thân, thuế thổ gì đó khi được tha phải bỏ xứ đi xa mần ăn. Cũng những ngày này Ba lo cho mình ít hơn lo cho con ngựa ở nhà. Ba chỉ sợ nó chết vì đói hoặc bị người ta làm thịt. Thời buổi loạn lạc này cuộc sống của mọi người đều khó khăn khốn khổ, người ta có thể làm mọi việc dù bất lương bất nghĩa bất nghì miễn bản thân sống còn.

**

 

Về tới đầu xóm Ba nhìn thấy con ngựa của mình đang gặm cỏ. Nó vốn đã gầy giờ càng thêm gầy xác xơ tiều tụy, một thằng nhỏ cưỡi trên lưng. Ba mừng rỡ. Thì ra “ông Tư lão niên” trong xóm cho cháu chăn nuôi giúp con ngựa. Gặp lại chủ nó mừng rỡ hí vang và hai cẳng trước cứ thế chồm lên quơ lia lịa trên không. Ba ôm đầu nó vuốt ve an ủi. Nó liếm láp hít hít khắp mặt mũi tay chân Ba. Cả chủ và tớ đều chẩy nước mắt. Từ đó Ba lại tiếp tục hành nghề cũ. Một mình một ngựa –  sửa lại cỗ xe thổ mộ bỏ phế từ ngày bị giam tù – cùng nhau chạy vạy bươn trải cuộc mưu sinh, mặc cho thế sự thăng trầm biến chuyển. Vì quá “phong trần” đánh vật trong cuộc mưu sinh, Ba đã biến hình đổi dạng. Năm tháng nặng nề trôi mau in hằn nét khắc khổ già nua trên khuôn mặt và thân mình gầy quắt của Ba. Mới đấy đã bao năm trôi qua. Mới đấy còn là “thằng Ba trời ơi” rồi “anh Ba xe ngựa” giờ đã trở thành “lão xà ích” với con ngựa già!

 

**

Lão xà ích nằm liệt trên đám cỏ dại héo khô xen lẫn đất cát đá vụn hỗn độn bên đường, chân co chân duỗi. Trước mặt lão không xa, cỗ xe thổ mộ sụp đổ bên đường, cái mui tôn rách tung từng mảnh, một bánh xe bị gẫy cái niền sắt rời hẳn ra cong vẹo. Gần đó con ngựa già nằm thoi thóp thở, bọt hai bên mép sùi ra trắng xóa. Thân mình nó gầy đét lởm chởm lông đen, cái bụng lép xẹp để lộ những xương sườn thảm hại và máu từ đây chẩy xuống đất. Hình như nó đang thoi thóp thở. Đôi mắt đờ đẫn không hồn của nó mở to ướt nhèm, nước mắt tuôn dàn dụa. Nó khóc, có lẽ vì nó không chịu đựng nổi sự đau đớn hành hạ do vết thương gây ra. Hai vó trước của nó vốn thương tật kinh niên bị gẫy lòi cả xương. Cạnh nó vung vãi một vài bông hoa bắt đầu héo. Lão xà ích hết nhìn cỗ xe thổ mộ, nhìn con ngựa già rồi nhìn con đường quốc lộ trải dài trong nắng chiều phai nhạt.

Hôm trước có người trong xóm đến thuê bao lão xà ích một ngày để sáng sau đi rước dâu. Có tất cả  ba xe thổ mộ chở “nhà trai”. “Nhà gái” không xa nhưng đường đi hơi khó khăn vì phải băng qua một con dốc khá cao. Xe của lão xà ích được vinh dự chở chú rể và ba cậu phù rể. Ba người này đều mặc áo sơ mi trắng thắt cà vặt đỏ, chỉ mình chú rể  mặc cái áo vét rộng quá khổ. Còn cha mẹ chú rể khăn đóng áo dài theo cổ lệ. Hai bên thành xe dán nhiều giấy đỏ có những hàng chữ viết như “loan phụng kỳ duyên”, “bách niên giai lão” “trăm năm hạnh phúc”…  Còn ngựa của lão xà ích quấn một vòng hoa đủ mầu sắc quanh cổ và trên đầu có “cắm” một bó hoa tươi nhỏ. Lão xà ích được chi trả một món tiền kha khá. Chật vật mãi mới vượt qua con dốc, tới tận trưa nhà trai mới tới nhà gái đúng giờ ấn định. Lễ lạc và ăn uống tiệc tùng xong xuôi nhà trai “rước” dâu về. Lần về xe của lão xà ích đi giữa chỉ chở riêng cô dâu chú rể. Xe chở mấy ông bà già và họ đàng trai dẫn đầu. Xe sau chót là mấy cô cậu phù dâu rể.                                                                                                                                               Buổi chiều đang êm đềm trôi trong nắng vàng bỗng gió nổi lên ào ào, nơi phương tây một khối mây đen khổng lồ vần vũ che lấp cả mặt trời. Cả ba cỗ xe thổ mộ vất vả hối hả đánh vật với con đường đổ dốc đầy hiểm trở để kịp về nhà trước khi giông bão ùa tới. Người ta nói lên dốc dễ hơn xuống dốc, thiệt đúng. Ba cỗ xe thổ mộ vừa xuống hết dốc để chạy ra quốc lộ thì có đoàn xe nhà binh cộng hòa chạy tới. Trong lúc lão xà ích đưa tay quệt mồ hôi trán khoan khoái thở ra nhẹ nhõm, bất thần tiếng súng từ phía trước phía sau đồng loạt nổ rầm rầm, đạn bay vèo vèo rít lên rùng rợn. Chắc xẩy ra phục kích đây. Nơi này thuộc vùng “xôi đậu” nhưng lâu nay vẫn yên tĩnh. Lão xà ích nghĩ bụng và chưa kịp định thần thì một tiếng nổ lớn ngay sát bên làm hai lỗ tai lão muốn vỡ màng tang. Đất đá tung lên mù mịt. Súng đạn cứ thế bắn liên hồi. Lão xà ích bỗng thấy đau nhói toàn thân rồi ngất lịm. Không biết bao lâu lão mới hồi tỉnh, nơi bả vai và cổ chân lão máu chẩy ướt đẫm, quần áo rách tơi tả. Thì ra lão bị thương nặng. Lão đưa mắt nhìn quanh nghe ngóng. Gần bên lão là chú rể nằm dài dưới đất hai tay vẫn ôm chặt lấy cô dâu với chiếc áo cưới đỏ rách tung thấm máu. Hình như trong cơn hoạn nạn đau đớn và trước cái chết họ vẫn nhất quyết không rời xa nhau. Hồi lâu tiếng súng ngưng. Có lẽ bên phục kích đã rút để lại nơi trận đánh đám người rước dâu không biết còn sống hay chết và ba con ngựa nằm bẹp dưới đất cùng mấy cỗ xe thổ mộ chổng chơ tan tành. Lão xà ích nhìn thấy mờ mờ, cách chỗ lão hơi xa một chút, hai ba xe nhà binh hư nát nằm ụ trên mặt đường, không thấy người nào quanh đó.                                                                                                                                 Trong lúc bàng hoàng hoang mang lão xà ích không biết mình bị trúng mìn hay bị đạn bắn phải. Thì ra bọn lão bỗng dưng mắc kẹt giữa lằn đạn của hai bên quốc cộng. Lão thấy thương quá đôi trai gái trẻ tuổi trong ngày vui đẹp nhất đời mình bỗng mang họa. Họ đâu có thù oán với ai, với phe này phe nọ, với bên này bên kia? Họ cũng như lão, chỉ là một thứ công dân bình thường có làm gì nên tội mà phải hứng chịu tai nạn thê thảm thế này! Chợt mặt lão xà ích đanh lại, hai hàm răng nghiến ken két. Lão muốn bước tới bên con ngựa vuốt ve an ủi nó nhưng không tài nào nhấc nổi hai chân. Lão thở dài đưa mắt nhìn về phương tây đã sẫm mầu tối với những tảng mây đen khổng lồ hình thù quái dị vần vũ mịt mù đang trôi nhanh về phiá lão như báo hiệu trời sắp nổi trận giông bão. Rồi lão nhìn lại những nạn nhân đang nằm sóng soài trên mặt đường bê bết máu. “Trời ơi!”. Bất thần lão xà ích phát tiếng kêu ai oán: “Chẳng lẽ ta chết nơi đây! Chẳng lẽ ta tới ngày tận số!”. Rồi lão hét lớn: “Đúng là trời hại ta, đúng là đời hại ta! Trời ơi, ta làm gì nên tội để đến nông nỗi này!”. Lão chống hai tay gắng gượng cố đứng lên lần nữa nhưng hoàn toàn vô vọng. Toàn thân lão đau đớn chẳng còn chút sức lực. Lão đành nằm buông xuôi ngửa mặt nhìn trời. Hai hàng nước mắt tuôn trào trên khuôn mặt nhăn nhúm già khằn của lão.                                                                                                                                      Bóng tối đang phủ xuống. Những lằn chớp lóe liên hồi xé rách từng mảng trời và những tiếng sét như tiếng súng đại bác làm rung chuyển muốn phá tan mặt đất. Hết nhân tai lại đến thiên tai. Lão xà ích nhắm đôi mắt lại. Trong cơn gió rít lão còn nghe thấy tiếng con ngựa già của lão rên rỉ .

 

THANH THƯƠNG HOÀNG

  ( 22.2. 2016 )

 

      

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: