Giáo Sư NGUYỄN LIỆU Giới Thiệu Nhà Thơ VÕ THẠNH VĂN Tác Giả “KINH VÔ THƯỜNG”

Giáo Sư NGUYỄN LIỆU

Giới Thiệu

Nhà Thơ VÕ THẠNH VĂN

Tác Giả “KINH VÔ THƯỜNG”

Trong một hội trường đông người, tôi và vợ tôi ngồi ở chiếc ghế sau cùng, để dự một cuộc hội của anh em đồng hương Quảng Ngãi. Không khí cuộc hội khá căng thẳng, trên sân khấu có người đang đọc diễn văn, vừa thanh minh, vừa đả kích nhóm đối lập. Tôi định đứng dậy ra về vì mình đã “rửa tay gác kiếm” mấy năm rồi, không thích hợp không khí này. Bỗng một người trẻ tuổi, vạm vỡ, hàm râu quai nón, quắc thước, lễ độ, đến gần hỏi tôi: “Xin lỗi, anh có phải ông Nguyễn Liệu không?”. Tôi vừa ngạc nhiên, vừa lý thú. Ngạc nhiên vì đã ngồi dưới tận cùng mà còn có người tìm đến hỏi thăm, và lý thú vì mới thoáng thấy trong giây phút đầu, mà như đã có lòng chờ đợi từ lâu.

 

Tôi vụt đứng dậy, đưa tay bắt, nói: “Ồ, tráng sĩ!” Thực lòng tôi rất thích gặp một người có một thân thể cường tráng, biểu lộ một vẻ hiên ngang, kiêu hãnh, một vẻ lướng cướng, bất sá, một vẻ giang hồ, hào sảng, cộng vào đó… một vẻ nghệ sĩ. Trừ những ngày trong chiến tranh, trong quân ngũ, lâu lắm rồi tôi mới gặp một người…như chiều hôm đó. Trong câu hỏi đầu tiên của anh, tôi biết anh dùng từ rất thận trọng và hay hay “ Xin lỗi anh có phải là ông Nguyễn Liệu?”. Chữ anhvà chữ ông trong câu hỏi, tôi thấy ngay rằng người “tráng sĩ” này đã biết, đã nghe, đã nghĩ nhiều về mình, và tình cờ hôm nay mới gặp. Tôi nhìn người tuổi trẻ này với cặp mắt khác , có phần kính trọng. Tráng sĩ ấy là Võ Thạnh Văn.

 

Vì tôi lớn tuổi hơn Võ Thạnh Văn nhiều, nên anh vồn vã và lễ độ với tôi: “Lúc nhỏ, có hai người em ngưỡng phục. Một, người đó ở Bình Sơn (Quảng Ngãi) là đại tá trong hàng ngũ Cộng Sản, nhưng đã chết rồi, và người thứ hai… là anh, mà hôm nay mới được gặp.” Văn cho biết cũng là người Quảng Ngãi, gốc ở Ba Gia, là một sĩ quan Không Quân quốc gia, du học năm 1970, sang Mỹ năm 1975. Nghe sơ lược tiểu sử như thế, tôi lại càng thích thú hơn. Thì ra, chàng không quân trẻ tuổi này đã từng lấy không gian, mây gió làm quê hương. Rồi từ ngày bỏ súng từ giã chiến tranh, cầm bút làm nghiệp văn thơ ở hải ngoại, ở Hoa Kỳ.

 

Điều làm tôi thích thú say mê và kính phục ở Võ Thạnh Văn là Thơ. Thật vậy, người thi sĩ trẻ tuổi này đã làm cho tôi bị thu hút, bị thôi miên vào rừng thơ phong phú của anh. Đúng là một rừng thơ, vì anh viết nhiều quá, quá sức nghĩ của tôi, anh viết đủ loại, vì anh biết làm thơ hồi còn rất nhỏ, lúc chưa lên mười tuổi. Trong những ngày ở đất khách quê người, anh viết trên ba chục ngàn câu thơ, gồm 10 nghìn câu lục bát trong “Kinh Vô Thường” và 10 nghìn câu ngũ ngôn trong “Kinh Vô Tự” và 10 nghìn câu còn lại trong những tập thơ rải rác khác của anh. Đúng, trong một con người mà khi ở giây phút đầu như một trực giác, tôi đã thốt lên một cách sảng khoái “Tráng sĩ!” thì mới đủ  “công lực” và bút lực viết ba chục nghìn câu thơ trong một thời gian ngắn, rất ngắn.

 

Trước khi đi vào “Kinh Vô Thường”, chúng ta hãy đi  thăm qua “vùng ngoại ô” thi ca của Võ Thạnh Văn. Tôi muốn nói những bài thơ về cuộc đời thực tế, về những danh nhân hào kiệt, về quê hương xứ sở.

 

“Cha ông dựng nước giữ thành

Trí cao trấn ải tài lành yên dân

Mấy phen phạt Bắc kinh thần

Mưa rơi. Sương rớt. Mây vầng. Sao băng..

……………

Đánh tan biên ải sa mù

……………..

Đánh nêu rõ mặt anh hùng

Nam Bang trí dũng sử bừng cảo thơm

( Hịch Sông Núi )

Nhưng Việt Nam chúng ta không phải là một dân tộc hiếu chiến, một dân tộc chinh du, mà là một dân tộc hiền hòa. Bởi vậy, vạn bất đắc dĩ phải ra quân để tự vệ, để bảo toàn non sông :

 

“Đánh xinh ao nhụy sen hồng

Đánh tươi lúa mọc xanh đồng ca dao

Đánh cho trai kiệt gái hào

Mương khai (ruộng thấp vườn cao) dậy tình

………………………

Đánh cho thuyền luyến biển khơi

Từng vùng đất sỏi thành nồi cơm ngon

Đá mềm. Chân cứng. Lòng son

Tim vàng. Xương sắt. Da đồng. Phổi gan.

 

Vâng, một dân tộc tự vệ lúc nào cũng yên hòa, vui với gia đình, với đồng ruộng, với thiên nhiên sông núi, nhưng khi bị xâm lăng, bị phá vỡ cảnh yên vui khiêm tốn, thì dù nữ nhi cũng xuất trận quyết liệt diệt kẻ thù:

 

“Đánh nêu liệt nữ thuyền quyên

Cỡi voi thúc trận trống chiêng dập dồn

Đánh cho khiếp nhược kinh hồn

Đánh cho ngoại sử lưu đồn thiên thu”

 

Những câu thơ trên tôi trích trong bài “Hịch Sông Núi” của Võ Thạnh Văn. Bài này có mười đoạn, hai trăm bốn chục câu. Có nhiều câu hay quá, làm cho người đọc phải sững sờ. Thơ Lục bát mà viết đến thế này là đạt đến mức cùng tột:

 

“Đánh xinh ao nhụy sen hồng

Đánh tươi lúa mọc xanh đồng ca dao

Đánh cho trai kiệt gái hào

Mương khai (ruộng thấp vườn cao) dậy tình”

 

Lục bát mà làm thế thì thôi hết chỗ nói. Chỉ có bốn câu thôi mà vẽ nên một cảnh sống động, một thời bình yên của một non nước đang phồn thịnh. Thêm nữa, bốn câu ấy còn vẽ nên hình ảnh sống động của một dân tộc nông nghiệp đang vui tươi tích cực tô đắp cuộc sống an vui thanh bình.

 

Nhưng rồi con người “Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo” Võ Thạnh Văn lâm vào thế nghiệt ngã, phải bỏ quê hương bỏ xứ sở ra đi, ôm mối hận nghìn đời, như tổ tiên đã “Hận Nam Quan”, đã “Hờn Bản Giốc”, đến nỗi như khắc cốt ghi xương thề rằng “Có những hận lớn trên đời, không dùng gươm không rửa được.”

 

“Thù xưa dài ngút dặm ngàn

Hận xưa thấp thoáng thêu màn tên reo

Gươm linh múa tít đỉnh đèo

Máu sa. Rượu đổ. Vàng gieo. Tinh kỳ”

(Hồn Bản Giốc)

 

Người thơ tráng sĩ này đã viết hai trăm bốn chục câu với nỗi lòng “Hồn Bản Giốc” cũng như hai trăm bốn chục câu “Hận Nam Quan” để nói lên lòng yêu nước, yêu dân tộc, và mãi mãi không bao giờ quên mối thù nhà, nợ nước. Như tôi đã nói, người thi sĩ này không phải là người chỉ “Mơ theo trăng và lơ lửng cùng mây”, mà còn là một kẻ sĩ, loại kẻ sĩ tích cực với ý đồ “Trước là sĩ, sau là khanh tướng”, với ước vọng “kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hung trung”nhưng không được toại nguyện như nhà thơ tiền bối đã vui tươi với cảnh nhàn, đầy tự hào đầy lý thú :

“Nhà nước yên thì sĩ được thung dung

Bấy giờ sĩ mới tìm ông Hoàng Thạch,

Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch

Tiêu dao nơi hàn cốc thanh sơn

Nào thơ nào rượu nào địch nào đàn

Đồ thích chí chất đầy trong một túi”

(NCT)

 

Không phải riêng một thi sĩ, mà cả thế hệ hàng triệu người Việt Nam, không được cái may mắn khoảng cuối cuộc đời như Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ. Bởi vì cái “Hờn Bản Giốc” cái “Hận Nam Quan” cứ ray rứt bên mình của người vong quốc tha hương. Nhà thơ Võ Thạnh Văn đã ray rứt, như tự giày xéo mình, giày xéo nỗi bất lực của mình, như có tội với tổ tiên, có tội với thế hệ mai sau.

“Đường gươm cha ông vẽ máu

Nghiến răng sát phạt Bắc triều                                                        ………………………………

Hận, giờ thành quách hoang liêu”

 

Hay là:

“Xe pháo cha ông bách chiến                                                           ………………………………

Hận, giờ non nước rỗng không”

 

Còn nữa :

                                                          

“Chiến công cha ông lẫm liệt

Bình Chiêm, phạt Tống, trừng Nguyên

Trí mưu cha ông kỳ tuyệt,

Hận, giờ thành quách ngã nghiêng

 

Còn nhiều nữa:

“Máu xương cha ông thơm ngát

Bón xanh đá sỏi núi rừng

Vun dày bờ đê luống đất,

Hận, giờ non nước rưng rưng”

 

Không làm sao kể hết :

“Cha ông gan chì dạ sắt

Trèo non vượt suối đạp ngàn

Xây bao đền đài vững chắc

Hận, giờ thành rã quách tan”

 

Thật khó mà dừng lại :

“Voi ngựa cha ông dũng mãnh

Bao đời cát cứ rừng xanh

Hoàng thành đúc chuông tạc đảnh

Hận, giờ xa mã vắng tanh….”

( HẬN NAM QUAN)

 

Ở thi sĩ Võ Thạnh Văn có những điều trái nghịch kỳ thú, là một sĩ quan lái máy bay, lấy trời xanh, lấy vũ trụ bao la làm môi trường sống cho thỏa chí tang bồng hồ hải, thế mà lý thú thay, con người không gian này rất yêu nơi sinh trưởng, nơi làng mạc hẻo lánh, nơi đồng khô cỏ cháy, nơi nghèo khổ cùng cực, tôi muốn nói xứ Quảng Ngãi quê hương của nhà thơ Bích Khê, của Nguyễn Vỹ, của Tế Hanh, của Phan Nhự Thức, của Lê Vinh Thiều, của Thinh Quang… Có người Quảng Ngãi nào mà không tự hào đất “địa linh nhân kiệt” của mình. Hơn ai hết, và chưa có ở đâu như thế, Võ Thạnh Văn tri ân và vinh danh gần một trăm danh nhân người Núi Ấn Sông Trà, bằng những lời thơ thống thiết đầy huyết lệ và hào quang:

                               

“Cắn tay trích máu lạc hồng

Viết giòng huyết lệ cẩn phong hịch truyền”

 

Đó là những câu thơ, đúng hơn là những lời ca bái phục để nói lên một hình ảnh hùng hồn tuyệt đỉnh, một bi hùng tráng, của vị anh hùng đất Quảng Ngãi Nguyễn Duy Cung (1839-1885) xuớng xuất phong trào chống thực dân Pháp. Anh hùng cách mạng Nguyễn Duy Cung bị bắt, và trước khi bị xử chém, đã hiên ngang cắn ngón tay lấy máu viết hịch kêu gọi vùng lên đánh đuổi ngoại xâm.

 

Ngoài những anh hùng xứ Quảng chém tướng giựt cờ, xem cái chết làm một trò chơi con trẻ để lại những gương sáng ngời cho hậu thế, còn những vị nổi danh “trong lang miếu ra tài lương đống” như danh sĩ Trương Đăng Quế làm Phụ Chánh bốn triều vua:

“Bút thần vẫy mực khai hoa

Lược thao chế loạn – khiêm hòa an dân

Bốn triều lương đống trung thần

Bao phen Kinh Lược – mấy lần Tam Công”

 

Tôi không thể không kể đến nhà khoa bảng anh hùng kiệt xuất, tài hoa son trẻ, hai mươi ba tuổi hiên ngang lãnh án tử hình, vì lãnh đạo công cuộc chống thực dân Pháp cướp nước. Đó là cử nhân Lê Trung Đình, (1862- 1885), người cùng quê Sơn Tịnh với thi nhân họ Võ. Thi sĩ Võ Thạnh Văn đã hết lời ca tụng :

“Trăm năm rực sáng đá vàng

Tấm lòng trượng nghĩa danh vang cõi bờ

Góp tay gây dựng soái đồ

Chiêu quân Nghĩa Hội – phất cờ Cần Vương”

 

Song song với những lời thơ hùng tráng để vinh danh các anh hùng hào kiệt Quảng Ngãi, cố nhiên cũng là những anh hùng hào kiệt của toàn dân Việt Nam, Võ Thạnh Văn hết lời ham mê thích thú những danh lam thắng cảnh của quê hương Núi Ấn Sông Trà. Tôi xin dừng một lát ở đây để khen phục những bậc danh sĩ tài hoa người Quảng Ngãi từ xa xưa, đã hứng khởi đặt tên cho những thắng cảnh phong phú đầy tình nghĩa, đầy nghệ thuật như một bức họa, mang một ý nghĩa cao đẹp, nhưng chỉ cô đọng trong mấy chữ.

 

Như trước một ngọn núi giống ngòi bút thì có bức tranh “Thiên Bút phê vân”, một quả núi bên bờ sông như hình cái ấn của nhà vua, thì “Thiên Ấn niêm hà”. Bốn chữ gói ghém “Hà Nhai vãn độ” hiện lên một bức tranh buổi chiều khi mặt trời sắp lặn ở bến đò Hà Nhai. Mười hai thắng cảnh như thế, nhà thơ Võ Thạnh Văn vẽ thêm vào. Nhìn “Thiên Ấn niêm hà”:

 

“Thoảng nghe vẳng tiếng chuông ngân

Trầm thơm nước ngọt giếng thầm thẳm sâu

Ba trăm năm cuộc bể dâu

Chiều nghiêng bóng dọi chân cầu xác xơ”

 

Nhà thơ chỉ thêm vào thắng cảnh này một ngôi chùa ba trăm năm nay, bên chùa có cái giếng nước sâu như không thấy mặt nước, vì đào từ đỉnh chót vót núi, và truyền tụng rằng có một cơ duyên đặc biệt mới đào được cái giếng này. Và dưới con mắt nhà thơ, vào buổi chiều, hình bóng quả núi in lên chân cầu sông Trà một cảnh buồn man mác. Một cảnh thiên nhiên và nhân tạo phối hợp hài hòa phớt nhè nhẹ nỗi buồn của buổi chiều tà.

 

Danh sĩ ngày xưa nhìn những tảng đá đẹp ở làng La Hà biến thành bức vẽ “La Hà thạch trận”. Đúng là xứ sở “lập nghiệp trên ba thước gươm”, nhìn đâu cũng thấy trận đồ. Nhưng đến danh sĩ ngày nay, đến Võ Thạnh Văn, qua trận đồ đó, thấy thêm nỗi đau xót cùng cực của một giống dân bị tiêu diệt “lũ ma Hời sờ soạng dắt nhau đi” (CLV):

 

“Vừa rơi tiếng trống thu không

Chợt vang nhạc ngựa vó lồng bãi hoang

Trăng khuya rọi đá bàng hoàng

Thiên binh vạn mã hồn oan ma Hời”

 

Nhìn thắng cảnh “La Hà thạch trận” nhà thơ của chúng ta thấy cả một cảnh chiến trường, khi tiếng trống thu quân về, còn những con tuấn mã trên yên không người kỵ mã, chạy lang thang hoảng hốt trên bãi chiến trường. Với câu lục và câu bát:

 

“Trăng khuya rọi đá bàng hoàng

Thiên binh vạn mã hồn oan ma Hời”

 

thì tôi có thể nói là hai câu thơ hay nhất trong thiên hạ! Dùng chữ ‘bàng hoàng’ kinh khủng quá. Việt ngữ phong phú quá, thi nhân xử dụng ngôn từ điêu luyện tài tình quá ! Còn nữa. Tôi muốn dẫn chứng thêm một cảnh nữa: cảnh “Hà Nhai vãn độ”. Dù có xa đề tôi vẫn nói rằng hai chữ gốc Trung hoa “vãn độ” hình ảnh cô đọng đến kỳ cùng. Bến đò vào buổi chiều. Chính những danh từ cô đọng đó làm cho thi nhân Việt Nam bồi đắp một tâm hồn phong phú. Vài nét thủy mạc của bức tranh đơn sơ đó, gợi hứng làm phong phú sức tưởng tượng cho thi nhân muôn thuở :

“Nước trong còn chảy bơ phờ

Dòng xưa đổi hướng chơ vơ bến nào

Đò xưa khóc khúc Ly Tao

Chập chờn mây phủ lệ trào tóc phân.”

 

Buồn, buồn chầm chậm thấm dần vào thi nhân. Bởi vì những thay đổi của cuộc đời, nhất là cuộc đời xa quê hương biền biệt, nhớ lại, sống lại với những kỷ niệm ngày xưa. Tình yêu của tuổi học trò… ba mươi năm rồi có còn ghi dấu những kỷ niệm êm đềm hay không?! Thi sĩ tưởng tượng có ngày về… và rồi cảnh cũ người xưa… ra sao. Nhưng thi nhân thừa biết, nói ‘mai mốt ta về,’ nhưng không có ngày về, chẳng bao giờ được về, và mãi mãi không có ngày về :

 

“Mai mốt ta về thăm phố xưa

Biết có còn ai buổi đón đưa

Bóng hình năm trước giờ biền biệt

Đã thấu lòng nhau quặn nhớ chưa”

Lớp người cũ ra đi biền biệt, lớp người mới tràn vào chiếm cứ. Có còn gì nữa không?!… Nhưng trăng vẫn là trăng năm xưa, mà thời gian có chờ ai đâu :

 

“Mai mốt ta về thăm phố trăng

Bao lâu biền biệt cánh chim bằng

Vầng nghiêng năm ấy còn duyên dáng

Như bóng hình ai thuở đó chăng”

 

Buồn quá, tôi không dám đọc hết một lượt những kỷ niệm… nghĩ đến ngày về mà tác giả đã vẽ những khung cảnh, những thời gian khác nhau. Nào phố trưa, phố buồn, phố khuya, phố gió, phố sương, phố mưa, phố nắng, phố nhớ, phố thương…. Buồn thật, vì thật sự không còn gì nữa:

“Mai mốt ta về thăm phố đêm

Đèn xưa còn thắp sáng bên thềm

Bài thơ năm đó còn dang dở

Từng giọt tài hoa rã rụng mềm”

 

Thời gian hủy hoại tất cả chỉ còn nỗi buồn xâm chiếm con người. Càng hành động, càng tích cực, càng mơ mộng… lắm khi càng mỏi mệt. Rồi cũng đến một lúc “Tuấn mã mòn xương ngắm cát bay”. Có lẽ vì những nguyên nhân đó, những nguyên nhân đời người quá mỏng manh, dần dần thi nhân đi vào khuynh hướng siêu thực, cho nên mới sáng tác “Kinh  Vô Thường”. Thật ra không phải thi nhân sáng tác, mà chính thi nhân sống một cuộc đời như thế, một cuộc sống vô thường,

 

Phần trên chúng ta gặp một Võ Thạnh Văn tráng sĩ, kẻ sĩ, hào sĩ… một người xả thân cho xã hội, cho quê hương tổ quốc, cho tình yêu, cho mộng mơ, cho chí lớn giang hồ. Nhưng đã đến lúc Võ Thạnh Văn đoạn tuyệt hẳn với quá khứ để bước vào một thế giới siêu hình tâm linh khác. Có thể nói một thế giới bắt đầu nhuốm mùi Thiền, mùi Lão, mùi Trang. Hai chữ  “Vô Thường”  là nền móng triết lý cuộc sống của nhà thơ:

“ Vô thường sinh diệt từng giây

Mắt người vàng lạnh liêu trai rã rời

Bao chiều nắng quái phai phôi

Áng mây tiền kiếp lặng trôi dạt dờ”

( Kinh Vô Thường)

 

Như vậy, đến đây, chúng ta thực sự bước vào phần chính là “KINH VÔ THƯỜNG” của Phù Hư Dật Sĩ Võ Thạnh Văn. Trước hết, chúng ta tìm hiểu Phù Hư dật sĩ này tại sao bước vào lãnh vực triết lý Vô Thường và ở khuynh hướng nào. Đó là những điều tôi sẽ trình bày dưới đây.

 

Cuộc đời Võ Thạnh Văn, từ lúc được sinh ra, lớn lên, mãi tới ngày giã từ vũ khí… là cả một cuộc đời chiến tranh. Trong một đoàn quân nghe tiếng nổ, người đi bên cạnh đang vui vẻ bỗng ngã gục lìa đời. Chiều hôm nay còn ngồi uống rượu với người bạn, ngày hôm sau đưa quan tài người bạn ra nghĩa địa. Đó là những cảnh hằng ngày phải chứng kiến, phải cảm nhận.

 

Hết chiến tranh, sống cuộc sống mới ở Hoa Kỳ, không còn cái cảnh bất đắc kỳ tử nữa. Nhưng, cuộc sống mới này, cuộc sống tiện nghi, dựa vào khoa học kỹ thuật cao, đưa con người với tốc độ quá nhanh vào cuộc đời vật chất. Bị mắc trong guồng máy sản xuất và thi đua làm giàu… con người khó có điều kiện, khó có thì giờ để sống cuộc sống nội tâm cho mình. Tại Việt Nam, lúc chiến tranh, con người thấy đời vô thường là đúng, nhưng đến một nước văn minh lại càng thấy đúng hơn, rõ hơn, dễ cảm nhận hơn.

 

Thật ra quan niệm vô thường loài người nhận biết từ rất xa xưa. Thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, nhà triết học Hy Lạp Herakleitos đã nói : “Tất cả đều biến đổi.” (All is in a state of flux). Mọi sự việc, mọi vật thể, kể cả thân xác tâm linh của con người, đều biến đổi từng sát na một, ý nói biến đổi không ngừng theo qui luật sinh, trụ, dị, diệt. Người khôn ngoan tìm hiểu qui luật biến hóa đó, bình tĩnh theo những qui luật để thoát ra ngoài vòng biến hoá, luân hồi, sinh, sống, chết. Để thoát ra cái vòng luân hồi khổ đau, đó là tu, theo cách tu của Phật giáo. Nhưng đọc suốt bộ trường thi “Kinh Vô Thường” này, chúng ta thấy ngay “đạo sĩ” Phù Hư không đi theo con đường của Phật, mà có lẽ, anh say mê Trang Tử (370-298), Lão Tử.

 

Lão tử, Trang tử đều xác nhận “Đạo chẳng thể nghe được, nghe được không phải là nó. Đạo chẳng thể thấy được, cái thấy được không phải là nó”. Nói gọn lại, Đạo không thể diễn bằng lời. Mà cái Vô Thường là trạng thái vận động, không ngừng biến đổi của vũ trụ, của vạn vật, nó là “ sự sống” của Đạo. Hãy nghe cuộc đối thoại sau đây. Đông Quách Tiên Sinh hỏi Trang Tử :

 

— “Đạo ở đâu ?”

 

Trang tử trả lời:

 

        — “Không chỗ nào không có”

        — Xin chỉ ra !

        — Trong con kiến, trong cộng cỏ, không có vật nào không có nó. Đạo lớn là chỗ nào cũng có.

 

Trang Tử còn phát biểu: Đức của mặt trời: Sáng, nóng. Đức của nước : lạnh, chảy. Đức của gió: Mát, dịch chuyển. Đức con người: Tự nhiên không ràng buộc với bất kỳ mối quan hệ xã hội nào. Đức có đời sống độc lập. Vì Trang Tử quan niệm con người như vậy, tự nhiên không ràng buộc với bất kỳ mối quan hệ xã hội nào, cho nên về tuổi gần già, con người, nhất là những người thường hay suy tư về đời người, hay đi tìm cái ý nghĩa của đời người, thường chấp nhận quan niệm của ông. Tôi nghĩ Võ Thạnh Văn cũng vậy.

 

Trước hết, Phù Hư dật sĩ Võ Thạnh Văn ý thức đời mình, thân phận mình… như là cát bụi. Bốn câu đầu trong cuốn Kinh Vô Thường viết :

“Phận ta hạt bụi mê lầm

Trong cơn say tỉnh gọi thầm giai nhân

Lạc nhau cát bụi bần thần

Gác khuya trở giấc gieo vần ngả nghiêng”

 

Từ lâu lắm rồi, qua triết lý Công Giáo, người ta đã phát biểu “Cát bụi sẽ trở về cát bụi”. Phật Giáo chủ trương: Không cái gì tự tạo và cũng không cái gì biến mất, nó chỉ biến thể, vì tất cả đều vô thường. Nhà khoa học kỳ tài, thủy tổ của ngành hóa học, Lavoisier, nói một câu thành chân lý “Rien ne se perd, rien ne se crée, tout se transformé.” Chúng ta còn dư âm của tiếng hát, tiếng than về kiếp người của nhạc sĩ tài hoa Trịnh công Sơn:

 

“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Để một mai tôi về làm cát bụi

Ôi cát bụi mệt nhoài

Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi

Bao nhiêu năm làm kiếp con người

Chợt một chiều tóc trắng như vôi

Lá úa trên cao rụng đầy

Cho trăm năm vào chết một ngày…”

 

Ai cũng vậy, quá tuổi trung niên, giật mình hối tiếc, đành bám víu vào một cái gì, một triết thuyết, để tạo một niềm tin mới, để bước vào cõi chết, cõi bi thảm nhất của con người. Mặc dù giáo lý Phật cũng như Lavoisier cho rằng chỉ biến thể chứ không bị hủy diệt.

Nhưng một sự thật, một sự thật không tránh né được “Nhưng em ơi, em không phải là tượng đá, đội thời gian để nhìn thế nhân qua” (TK). Và :

 

“Quân bất kiến cao đường

minh cảnh bi bạch phát.

Triều như thanh ti mộ như tuyết”

Anh có thấy cha soi gương

buồn bã thấy tóc bạc,

sáng tóc còn xanh

chiều tóc trắng như tuyết!”

 

Người là vậy, Võ Thạnh Văn là người, cho nên Võ Thạnh Văn cũng vậy :

“Vốn ta hạt bụi ưu phiền

Trong cơn ngái ngủ triền miên gọi người

Luân hồi gợn thoáng tâm hư

Sắc không dậy chút tâm từ hỗn mang

 

Trong mơ cát bụi bàng hoàng

Trong ta còn trắng vành tang tình dài

Trong em mờ cuộc tình phai

Trong tình còn đẹp dấu hài nghìn sau

 

Sương khói nào nhung nhớ nhau

Cát bụi nào đau nỗi đau phận này

Tương tư giọt bụi rạc gầy

Thủy chung hạt cát lịm ngây cõi ngoài”

 

Có một điều lý thú khi đọc suốt bài trường thi Kinh Vô Thường này, cái điều mà thi sĩ xót xa khác hẳn những xót xa thường tình về thân phận mỏng manh của kiếp người. Trước thi nhân, nhiều người đã nói, đã lặp lại, đã nhắc nhở, đã thúc dục nhiều lần :

 

“Quang âm tợ tiển, nhật nguyệt như tỏa. Vô Thường tấn tốc, thiết mạc ta đà ! Thị nhựt dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc…” (Thời gian tợ tên bắn, ngày tháng như thoi đưa, Vô Thường chóng qua mau, gắng gỗ chớ dần dà! Ngày tháng trôi qua, mạng sống dần dần đoạn giảm như cá thiếu nước, nào có vui chi).

 

Nhưng đến lúc tuổi đã bắt đầu trên đoạn gần xế chiều, Võ Thạnh Văn không phải người tìm nương cửa Phật hay một tôn giáo nào, để may ra, tìm con đường giải thoát, để về một cuộc sống hằng cữu an bình. Không, nhà thơ đạo sĩ ẩn dật này không dám mơ ước cao xa ở một thế giới siêu hình, mà đành an phận chấp nhận một thế giới hiện hữu, một thế giới đau khổ, mà với thi nhân, một thế giới tình yêu ngang trái, tình yêu đổ vỡ, tình yêu đầy máu lệ. Không thể cắt đứt được, không lãng quên được, luôn luôn ngụp lặn trong bể ái tình mênh mông đầy băng giá. Kinh Vô Thường của Võ Thạnh Văn là tiếng ru hời, tiếng khóc thầm, tiếng nức nở, tiếng thở than… về cuộc đời tình ái mà Thượng Đế không bao giờ cho trọn vẹn.

 

“Trong mê môi mắt hững hờ

Chiếu chăn xô lệch bên bờ chia xa

Mốt mai dấu ấn nhạt nhòa

Trăng xưa vẫn sáng mấy tòa lầu không”

……………………………………….

“ Người từ cát bụi đầu thai

Nghe kinh hóa cội hoàng mai đền thần

Ta từ sỏi vụn liều thân

Ngẩn ngơ. Trôi giạt. Phù trầm. Hợp ly”

 

Nhẹ, rất nhẹ… nhưng đau quá, vì lòng người là một cõi rừng âm u:

“Hoa trôi cửa động hững hờ

Trăng soi cửa động, lững lờ thu bay

Xa nhau vời vợi tầm tay

Gần nhau gang tấc ai hay riêng lòng”

…………………………………….

“Trăng thành đô đã lặn chưa

Mà sao tràn đổ lệ thừa đêm nay

Môi nào say – mắt nào cay

Mà sao lệ ứa những ngày tóc hoen”

 

“Đã đành lệ đổ nhiều phen

Mà sao bước nhẹ vẫn thèn thẹn qua

Cũng đành nước mắt chan hòa

Mà sao môi vẫn mím nhòa nhạt đôi”

 

Đọc kinh Vô Thường của Võ Thạnh Văn, tôi thấy những gì? Không thấy gì hết, không nghe gì hết, không biết gì hết. Tôi bị lạc vào một thế giới không phải thế giới của con người, cũng không phải sáng lạng an bình như cảnh Niết Bàn, không tối tăm như cảnh địa ngục âm ty. Nó nhè nhẹ, ru ru, dìu vào một không gian huyền ảo vô biên giới, trôi mãi, đi mãi không lối ra. Nhẹ như không có trọng lượng, buồn buồn. Phải rồi, một thế giới buồn buồn nhưng không ai oán, không hận thù, không hoan lạc, không có tiếng cười , không tiếng khóc… lặng lẽ, lững lờ… như không có thời gian. Lạc vào thế giới Kinh Vô Thường này, ta như thấy lại, sống lại, những mối tình yêu từ lúc ban đầu mãi tới hiện tại, và chỉ có đồng nhất một thứ, không lẫn lộn một thứ khác, là tình yêu người đẹp, một tình yêu không bao giờ trọn vẹn, có khi không bắt gặp. Một tình yêu với người bằng xương bằng thịt hay là tình yêu đối với người đẹp ở thế giới hão huyền ma quái, tình yêu của Liêu Trai, hay là chỉ  những

 

“Hóa nghìn cánh buớm mười phương

Bay qua mấy cuộc tình trường khói mê”

 

Đọc Đoạn Trường Tân Thanh của đại thi hào Nguyễn Du, chúng ta bước vào cuộc sống thật của một xã hội muôn mầu sắc. Chúng ta yêu mê giai nhân quốc sắc thiên hương, cảm mến chàng thư sinh ngây ngô, oán hận giai tầng thống trị bất lương, ghê tởm cuộc sống lầu xanh, khâm phục bậc anh hùng ngang tàng dám chết vì tình yêu, ớn lạnh cho những kẻ mưu mô xảo quyệt…Tóm lại chúng ta bắt gặp được cái xã hội chúng ta đang sống. Vì văn tài của Tố Như, đọc truyện Kiều, chúng ta bị thu hút với những cảm xúc rất mạnh. Những say đắm ái ân, những cảm phục, những tức bực, những thương xót cùng những bất mãn cùng cực… Nhưng khi đọc trường thiên bất tận Kinh Vô Thường của Phù Hư Dật Sĩ Võ Thạnh Văn, chúng ta không bị lôi cuốn mãnh liệt với tốc độ nhanh như đọc truyện Kiều, nhưng, nhè nhẹ, du du, dìu vào một thế giới mờ ảo, một thế giới chỉ độc mỗi một thứ tình yêu, một hồi tưởng về cuộc đời yêu đương đầy tiếc nuối, dai dẳng, mãi mãi với con người.

 

Vì thế, đọc truyện Kiều, vì là một truyện, có thể nói đó là một vở bi hùng tráng kịch, nên người đọc đi vào có đường có nẻo, có ngõ vào có ngõ ra, có mở đầu có kết thúc, ân oán giang hồ phân minh, có công có tội phơi bày rành rành, dựa theo một quan niệm cổ điển “Văn dĩ tải Đạo”. Khác hẳn hoàn toàn khi chúng ta bước vào Kinh Vô Thường, không đường, không lối, không thủy, không chung, “muốn ra ai cấm muốn vào ai ngăn”. Tùy theo người đọc, vì đọc ở đây là sống với nó, tùy theo trạng thái tâm lý, tùy theo trình độ trí thức mà hòa nhập với Kinh Vô Thường. Bởi vì tác giả, người viết ra nó, có một sức học vấn uyên thâm, nếu ai đã đọc kỹ và đọc hết sẽ nhận thức điều đó.

 

Nếu ai đã từng hạ bút làm thơ, nhất là những vần lục bát, đến như thi thánh, từ cụ Tiên Điền đến Nguyễn Bính… theo tôi, cũng phải hài lòng vì có kẻ hậu sinh nối tiếp tài ba của mình một cách xứng đáng. Tôi quá bất lực không thể nói hết cái tài hoa của tác giả Võ Thạnh Văn khi đã sáng tác những câu lục bát quá tuyệt vời. Kẻ bất tài nầy, xin trộm mượn lời Đào Uyên Minh đời Tấn, để ra khỏi bài này “Thư bất cầu thậm giải.”

 

Tháng 11 năm 2007

NGUYỄN LIỆU

(nghiathuc.com)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: