Võ Quốc Linh: Thuyền

Võ Quốc Linh: Thuyền

Chủ Nhật, 30 tháng 4, 2017


Nhà thơ Võ Quốc Linh (ảnh: Uyên Nguyên)
Năm ngoái, có một lần Nerine Martini gọi điện thoại cho tôi, giọng cô reo vui khác thường: “Linh ơi, còn nhớ bài viết Thuyền Cứu Rỗi không? Carolynne Skinner, chủ biên của đặc san mỹ thuật OZ Arts, có đọc bài viết của Linh và rất thích, bà nhờ mình gọi Linh để được phép đăng cũng như xin trích một đoạn cho phần kết bài tiểu luận của bà… Linh đồng ý chứ?”
Lặng yên một khoảnh khắc, tôi nói, giọng tỉnh queo: “Ồ, Nerine, tôi e là không được đâu. Tôi không nghĩ là Carolynne có thể trả nổi khoản… tiền nhuận bút đâu.”
*
Gần mươi năm trước, tôi bày một tiệc nhỏ tại nhà, khách mời phần lớn là người Úc chuyên môn trong lĩnh vực tạo hình: Kon Gouriotis, Nerine Martini, Sue Pedley, Ray Beattie, chị Huỳnh Bội Trân, Mỹ Lệ Thi, anh Hoàng Ngọc-Tuấn…

Sau bữa ăn nhẹ, mọi người ngồi quanh cái bàn thấp rộng trong phòng khách, chính giữa bàn là tác phẩm điêu khắc của Nerine Martine: “Thuyền Cứu Rỗi”. Kon Gouriotis ngồi đối diện với tôi. Thuở đó Kon đang làm giám đốc của Viện Mỹ Thuật Casula Powerhouse. Ngắm chiếc thuyền thật lâu, đột ngột ông ngẩng mặt lên nhìn tôi nói: “Linh, bồ kể cho tụi này nghe tại sao bồ thích và mua lại chiếc thuyền này đi.”
Có lẽ vì đang ngà ngà hơi men, hay vì bị thúc giục bởi một ám ảnh trong vô thức, tôi bắt đầu kể, mắt không rời chiếc thuyền trước mặt.
Tôi đã không còn ngồi đó nữa, hồi tưởng ném tôi lọt thỏm vào lòng chiếc thuyền của hơn 20 năm trước. Tôi đang ngồi bệt trần truồng, sống lưng tựa vào mạn thuyền, hai bàn tay bấu chặt vào ống chân trái nơi vừa bị bể toác vì nhát rìu; tên hải tặc Thái nhắm đầu tôi bửa xuống mà chính phản xạ sinh tồn đã khiến tôi cuộn mình, giơ ống chân lên che chắn. Qua kẽ tay, máu cứ lầy nhầy, lợn cợn ứa ra.
Máu nhễu giọt… Đống quần áo bao bị sau khi đã giằng xé ra khỏi thân thể của 38 con người, được gom thành một đống lớn giữa lòng chiếc thuyền. Như một thứ “nghi lễ” kỳ dị, nhóm hải tặc vừa cười rú, vừa nhảy múa xung quanh đống đồ, vừa nhặt từng chiếc lên, lấy ra tất cả những gì trong túi áo, túi quần. Chưa xong, họ còn tỉ mỉ lần ngón tay theo từng cái tà áo, cái lai quần. Họ rành quá, ở đó chính là nơi người tị nạn cất giữ những thứ quí giá nhất: những sợi dây chuyền vàng, những đồng đô-la cuộn nhỏ… Ở đó cũng là nơi ghi chép địa chỉ người thân ở Anh, ở Mỹ…, ghi chép cấp bậc số quân của người cha, người chồng còn trong trại cải tạo.
Máu nhễu giọt… Những tên hải tặc bồng xốc những đứa con gái lên rồi vật từng đứa, từng đứa nằm ngửa loã lồ trên sàn ca-bin thuyền. Bọn chúng xếp hàng một rồi tuần tự thúc tới. Một cái thùng phuy chứa đầy nước bên cạnh, một cái nón sắt cũ của lính Mỹ lật ngửa, như cái gáo… Họ múc – tạt – rửa… Múc – tạt – rửa… Múc – tạt – rửa… Rồi bọn chúng luân phiên, nhường chỗ cho những kẻ kế tiếp.
Tôi kể, tôi kể. Máu nhễu giọt, nhễu giọt… Giọng tôi đều và lạnh, cứ như vậy không biết bao lâu tôi chợt rũ ra, kiệt sức…
Khi tôi kể xong, ngước mặt nhìn lên, bạn bè vẫn còn sững sờ bất động, họ nhìn tôi như nhìn một người đang… hấp hối.
Kon Gouriotis là người đầu tiên lên tiếng, giọng ông lạc hẳn, ấp úng: “Linh ơi, Tối mai tôi quay lại nhà bồ được không? Tôi sẽ mang theo cái máy quay phim. Tối mai bồ làm ơn kể lại chuyện này một lần nữa. Cuốn phim sẽ là một loại Video-Art về người tị nạn… mà tôi muốn dùng nó cho cuộc triển lãm sắp tới.”
Chị Bội Trân và dăm ba người nhẹ nhàng tán đồng ý định của Kon Gouriotis. Họ lên tiếng khuyến khích, nhưng tôi dứt khoát từ chối vì trước tiên tôi biết mình không thể “diễn” lại những gì tôi mới kể. Hơn nữa, để danh tính và diện mạo nơi công cộng là điều tôi thường tránh né. Tôn trọng tôi, bạn bè không nhắc đến việc làm phim, nhưng họ lại loay hoay tiếc. Chị Bội Trân sau đó nhỏ nhẹ đề nghị: “Hay là anh Linh viết lại đi. Trân nghĩ ngồi viết lại có lẽ dễ hơn.” Chiều chị và nhóm bạn hữu, tôi gật đầu.
Không lâu sau đó, cầm bài viết Thuyền Cứu Rỗi đưa cho chị Bội Trân, tôi nhờ chị đừng để tên cúng cơm của tôi dưới bài viết, chị muốn lấy tên gì khác cũng được. Chị đã lẳng lặng dùng một bút hiệu cũ của tôi: Phạm Chí.
Trong cuộc triển lãm “Nam Bang” tại Viện Mỹ Thuật Casula Powerhouse, từ 04.04.2009 đến 21.06.2009, dưới chủ đề nhìn lại cuộc chiến Việt Nam qua những góc cạnh khác nhau, với sự tham gia đóng góp tác phẩm của 25 hoạ sĩ đến từ nhiều nơi trên thế giới, tác phẩm điêu khắc “Thuyền Cứu Rỗi” của Nerine Martini từ phòng khách nhà tôi, và bài viết Thuyền Cứu Rỗi của tôi (với bản dịch tiếng Anh của anh Hoàng Ngọc-Tuấn), được trưng bày trên bục cao, trong lồng kính.
*
Tội nghiệp Nerine, vẫn đang nghe điện thoại, cô ú a ú ớ không nên lời, khi nghe tôi đề cập đến tiền nhuận bút. Tôi liền cất tiếng xin lỗi rằng tôi chỉ đùa thôi, rằng tôi có tật mỗi khi cảm động thì lại hay nói đùa. Tôi nói với Nerine rằng tôi đồng ý vô điều kiện để Carolynne tuỳ nghi sử dụng bài viết đó.
Một tháng sau, Nerine rủ tôi đi ăn bún bò Huế ở Bankstown, Sydney. Cô tặng tôi cuốn OZ Arts, số Winter 2015. Giở sách nhìn lướt qua, tôi bắt gặp dòng chữ đầu tiên Carolynne Skinner viết trong mục Editorial: “One of the most moving stories I have read in a long time is the one related by Pham Chi, a Vietnamese Australian who now owns Nerine Martini’s maquette of Life Boat / Thuyen Cuu Roi…” (Trong suốt một thời gian dài, một trong những câu chuyện cảm động nhất mà tôi từng đọc là câu chuyện được kể lại bởi Phạm Chí, một người Úc gốc Việt và hiện nay là chủ nhân của tác phẩm “Thuyền Cứu Rỗi” của Nerine Martini.)
VÕ QUỐC LINH
Little Moon Bay, 5 /2016.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: