BÀN VỀ KHỈ – Nguyên Lạc

Nguyên Lạc

 

            BÀN VỀ KHỈ

  

Tọa trung đàm tiếu nhan như mộc,

Dạ bán phan viên thủ tự hầu.  

(Nguyễn Khuyến – Giả Cách Điếc)

Ngồi giữa đám nói cười thì mặt ngây như gỗ

Nửa đêm thì tay lần mò như con khỉ.

 

Có rau nội quạnh, dân xanh mặt

Không trái bần khô, khỉ bạc đầu …

(Cử nhân PHAN VĂN TRỊ)

 

VÀI HÀNG VỀ KHỈ TRONG SINH VẬT HỌC

 

KHỈ thuộc lớp Thú (Mammalia:  còn được gọi là Động vật có vú hoặc Động vật hữu nhũ), bộ Linh trưởng (Primates) là bộ các động vật có độ tinh anh (trí tuệ) cao hàng đầu trong số các động vật. Bộ Linh trưởng được chia thành 2 nhóm chính: Prosimii và Simiiformes.  

– Prosimii mang các đặc điểm rất giống với các linh trưởng cổ nhất, và bao gồm vượn cáo đuôi vòng của Madagascar, cu li và vượn mắt kính.  

– Simiiformes bao gồm các loài khỉ và khỉ không đuôi.

Nhánh Linh trưởng được cho là hình thành cách đây ít nhất 65 triệu năm,(Wikipedia)

Tôn Ngộ Không, một nhân vật trong truyện Tây Du Ký của văn học cổ Trung Hoa, vốn là khỉ được nhân cách hóa. Hanuman trong thần thoại Ấn Độ cũng là khỉ. Khỉ còn được coi là động vật tượng trưng cho tinh thần lạc quan và tính bắt chước.

 

KHỈ TRONG TÂY DU KÝ

 

Tôn Ngộ Không còn gọi là Tề Thiên Đại Thánh hay Tề Thiên, là nhân vật chính trong tiểu thuyết Tây Du Ký, nhân vật giả tưởng có thể được xem là nổi tiếng nhất trong văn học Trung Hoa. Tôn Ngộ Không là một pháp sư, nhà sư, có hình thể là một con khỉ. Tôn Ngộ Không theo làm đệ tử của Tam Tạng để thỉnh kinh tại Tây Thiên (Ấn Độ)

 

Trán dô mắt thau sáng quắc,

Đầu tròn lông tóc bờm xờm.

Mõm nhọn răng thưa tính nóng,

Thiên lôi dữ tợn kinh hoàng …

 

Tôn Ngộ Không biết được 72 phép biến hóa (Thất thập nhị huyền công), gấp hai lần số phép của Trư Bát Giới (con lợn /heo, yêu quái cũng là đệ tử của Tam Tạng.

Sau khi lấy được kinh, bốn thầy trò Tam Tạng được phong làm Phật. Tôn Ngộ Không do có tài phép đánh yêu tinh, ngay cả chư Thần Tiên cũng khó sánh, lại có công phò tá Đường Tăng thỉnh kinh, được phong làm Đấu Chiến Thắng Phật.  (Wikipedia)

 

TƯỢNG BA CON KHỈ

 

Tượng Ba Con Khỉ Khôn Ngoan được đặt ở đền Toshogu ở Nikko, Nhật Bản. Ba con Khỉ Khôn Ngoan đó tượng trưng cho triết lý Tam Không:

– Khỉ Mizaru bịt mắt để không thấy điều xấu

– Khỉ Kizaru bịt tai để không nghe điều xấu

– Khỉ Iwazaru bịt miệng để không nói điều xấu

 

NHỮNG CHUYỆN LIÊN QUAN ĐẾN KHỈ

  1. Con khỉ sếp

 

Chuyện rằng:

Có một Ngài Quan “đỉnh cao”  (cỡ Cờ Lờ Mờ…) chỉ thích nghe lời nịnh nọt (và quà cáp). Ông bắt nhân viên thuộc hạ khi xưng hô với mình, một điều phải “Thưa sếp”, hai điều phải “Bẩm sếp”. Ai biết tính sếp thì cuối năm được tăng lương, còn nếu  không sẽ bị đuổi đi nơi khác vì lý do kỷ luật. Vì thế có nhiều người ức lắm, chỉ chờ dịp “tặng” ông sếp ấy một bài học đích đáng.


Ngày nọ, có một nhân viên bị sếp thuyên chuyển, anh em đồng sở liền tổ chức một bữa tiệc tiễn đưa. Cố nhiên ông sếp được mời làm chủ tọa danh dự. Tiệc rượu rất vui nhộn: Văn nghệ đủ mục. Tiệc gần tàn, anh bị thuyên chuyển đứng lên xin muốn có mấy lời từ biệt anh em và  kể tặng các bạn một câu chuyện cổ tích. Anh em thích lắm, vì biết chàng này vốn nổi tiếng là một cây khôi hài. Thế là tiếng vỗ tay hoan nghênh rộ lên khắp bàn tiệc. Sau một hớp rượu, gắp thêm miếng mồi, anh chàng mới khề khà kể:


   Ngày xưa có một ông vua tính nết rất kỳ khôi, hay chơi những trò  trái khoáy. Vua nghe đồn ở núi Thái Sơn mới xuất hiện một trăm con khỉ đít đỏ rất quý  hiếm, nên truyền triều thần phải bắt  đủ số về làm cảnh. Các quan lo tái người. Vì mạo hiểm leo lên được đỉnh Thái Sơn nguy hiểm kia đã khó,  lùng bắt đủ một trăm con khỉ càng khó hơn. Có khi mất mạng. Nhưng  nếu không muốn mất “chỗ đội mão”, họ phải nghe lệnh liều đi bắt khỉ. Bao phen xông xáo nguy hiểm,  họ chỉ có bắt được có chín mươi chín con, còn con đầu đàn chạy trốn; giăng bẫy mãi không bắt được. Các quan lo lắm vì kỳ hạn sắp tới. Túng quá hóa liều, họ đành tìm bắt một con chó  giống như khỉ thay thế, hy vọng “lập lờ đánh lận con đen” để qua mắt nhà vua.


Ngày nộp khỉ đã tới, vua vui vẻ đón nhận đúng một trăm con khỉ và hết lòng khen ngợi quần thần. Sẵn có chùm nhãn, vua ném hết cho lũ khỉ, rồi xem chúng tranh ăn, đuổi nhau “khẹt  khẹt” khắp vườn thượng uyển.  Chỉ một lát, chùm nhãn hết sạch.

Vua đặc biệt  chú ý thấy có một con khỉ, không kêu “khẹt khẹt” mà kêu “gấu gấu”;  không ăn nhãn,  chỉ chạy  tới chạy lui tìm phân  mà ăn thôi. Lấy làm ngạc nhiên, vua hỏi triều thần:

– Giống khỉ gì lạ thế?
Một vị quan kính cẩn:
– Muôn tâu bệ hạ, đó là con khỉ sếp ạ!

 

  1. Giai thoại Khỉ thời Trịnh Khải

 

Giai thoại kể rằng : vào thời Trịnh Khải, 1783, thế lực Chúa Trịnh đang suy tàn, nhưng vẫn còn kẻ nịnh bợ. Đặng Kim đã làm đến tước hầu, mà còn xin làm con nuôi nhà Chúa, đổi tên là Trịnh An. Một hôm, trên tường vôi nhà Hầu, có người đến vẽ một cây cổ thụ đang xiêu đổ, lá cành trơ trụi, gốc rễ ngả nghiêng. Trên chạc có con khỉ đang nằm ngủ, bên cạnh có câu thơ nôm :

Khỉ ơi tỉnh dậy đi thôi

Đừng chờ cây đổ, đi đời nhà mi.

Hầu Trịnh An tỉnh ngộ, từ quan, lấy lại tên cũ. Về sau, khi Trịnh Khải đổ, ông tránh khỏi nạn cháy nhà vạ lây. (theo Đặng Tiến)

 

  1. Tình mẹ con của Vượn (Khỉ)

 

Chuyện Vượn, trong tình mẹ con làm  cảm xúc và nhớ đời, là một bài tập đọc lớp Ba, bậc tiểu học, cách đây hơn nửa thế kỷ (1949). Chuyện kể:

Có người thợ săn muốn bắt sống một chú vượn con, đã dùng tên độc để giết vượn mẹ. Vượn mẹ bị tên, biết mình không thể sống được, bèn gắng vắt sữa ra rừng để cho con uống. Xong rồi lăn ra chết. Người thợ săn quay về phía vượn con, cầm roi quất vào xác vượn mẹ. Vượn con thấy thế, kêu gào thương xót, chạy ngay lại gần. Người đi săn mới bắt sống được.

Lúc về nhà, cứ đêm đêm, vượn con nằm phục bên xác mẹ, ôm lấy kêu gào, vật vã, rất thảm thiết. Không được mấy hôm, vượn con cũng chết. ”

Tình mẹ con nhắc đến câu ca dao :

Con vượn thương con lên non hái trái

Anh thương nàng phận gái mồ côi

(Tình Mẹ Con, Sách Tập Đọc Lớp Ba, tr. 10, một Nhóm Giáo Viên, 1949, Sài Gòn )

 

KHỈ TRONG THƠ VĂN

 

  1. Ca dao, thành ngữ

Tủi thân con khỉ ở lùm

Cuốc không lo cuốc lo dùm người ta (ca dao)

 

Mả cha giống khỉ ở lùm

Quốc vong mặc Quốc, lo trùm kín đuôi  (Đất Văn Lang)

 

Cà Mau khỉ khọt trên bưng

Dưới sông cá lội, trên rừng cọp um  (ca dao)

 

Khỉ thường được liên hệ đến các từ trò khỉ, khỉ khọt …

“Khỉ khọt” là nhiều khỉ, sống từng đàn

“Khỉ ho cò gáy” nhằm chỉ nơi xa xôi hẻo lánh, nơi rừng rú hoặc nơi đất đai cằn cỗi.

Lại có thành ngữ: “Khỉ chê khỉ đỏ đít”,  “Nhăn như khỉ ăn ớt”,  “Rung cây nhát khỉ” , “Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà (Nuôi khỉ giữ nhà)” *…

 

@* Bàn rõ thêm về câu:  “Nuôi khỉ dòm nhà (Nuôi khỉ giữ nhà)”

Khỉ là con vật láu lỉnh, tinh nghịch, có thói hay bắt chước rất tai hại, biết cầm nắm, sử dụng công cụ, thực hiện một số động tác như người. Rất khó quản lý hoặc răn dạy khỉ, nên kể cả nuôi trong nhà, người ta vẫn thường phải nhốt, hoặc xích nó lại. Nếu được thả tự do, không có người giám sát (tựa như giao việc trông coi nhà cửa cho nó), khỉ sẽ bắt chước người làm một số việc rất nguy hiểm. Ví như thường ngày khỉ thấy người nhóm lửa nấu nướng, nó cũng lén cầm mồi lửa “châm thử” vào mái tranh, mái kè…[thế nên tục ngữ Mường có câu: “Nuôi khỉ khỉ đốt nhà” (Ruôi khỉ, khỉ đột nhá)]. Thậm chí dân gian còn lưu truyền câu chuyện thương tâm:

Nhà kia, làm nghề mổ heo bán thịt, có nuôi con khỉ. Thường ngày nó thấy chủ  thọc huyết làm thịt heo. Khi chủ đi vắng, nó lẻn ngay vào buồng, bắt chước trói đứa trẻ nhỏ con chủ nhà đem ra thọc huyết, rồi phân chia thân thể đứa nhỏ đầu ra đầu, tay ra tay, chân ra chân …

Chuyện khỉ sổng chuồng lấy quần áo của người để mặc, kê đít ngồi, hay ra vườn phá phách hoa quả, ăn một phá mười ai cũng biết.

Như vậy, nghĩa bóng thành ngữ “Nuôi khỉ giữ nhà” là: Trông chờ, nhờ cậy không đúng đối tượng; sai lầm trong dùng người, kết quả chỉ có hại.

 

  1. Vũ Điệu Của Bầy Khỉ

Xin giới thiệu đến các bạn vũ điệu của bầy “con người mới XHCN” qua mắt nhìn của “con người bình thường” Dung Nguyên.

 

VŨ ĐIỆU CỦA BẦY KHỈ

 

Dưới chân Thái Tổ Thánh Hiền

Là con khỉ cái áo xiềng 2 dây

Nó đang nhảy điệu gì đây

Cha cha, động đực, nhạc Tây hay Tàu ?

 

Tinh mơ bầy khỉ túa vào

Trẻ già đủ cỡ sặc màu xác thân

Tóc tai tựa đám kì lân

Khăn len, giày boot ….giật gân… từng hồi

 

Óc khỉ chắc đã bị nhồi

Biến thành tàu hủ lâu rồi đúng không ?

Giẫm lên sĩ Quốc Gia phong

Chọn ngay ngày giỗ … chu mông hẩy bều .

 

Làm người không ít thì nhiều

Biết ơn trọng nghĩa sợ điều thị phi

Hóa khỉ chẳng nên sống chi

Chỉ làm chật đất tự ti giống dòng

 

Mười bảy tháng hai chạnh lòng (*)

Thương màu Sim tím, tủi vòng tri ân !

(Dung Nguyên)

—————

(*) Mười bảy tháng hai

Sáng sớm ngày 17/2/1979, hơn 60 vạn quân Trung Quốc đã ào ạt tràn sang xâm lược sáu tỉnh Biên Giới phía Bắc của Việt Nam là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lao Cai và Lai Châu. Giặc Tàu đã giết chết hàng chục ngàn dân thường vô tội.(*)

(*) Tài liệu Huỳnh Tâm – Á Châu Thời Báo

http://achauthoibaonews.com/blog/?p=14261

—————–

 

CÁCH BẮT KHỈ VÀ ĂN ÓC KHỈ

 

  1. Cách ăn óc khỉ

 

Tương truyền do bà Tây Thái Hậu triều Mãn Thanh sáng tạo ra. Khỉ đặt ngồi trong một chuồng sắt nhỏ, cơ thể bị buột chặc lại không cho cử động. Chóp sọ đầu (được cao lông sạch) cho lộ ra ngoài qua một lổ nhỏ phía trên chuồng. Một dao bén phạt ngang qua, chóp sọ bay đi, óc lộ ra ngoài còn ấm, bốc hơi! Khỉ la é é! Người ăn ngồi kế bên dùng muỗng múc óc khỉ, chấm vào đĩa muối tiêu, đưa lên miệng, chiêu một hớp rượu, khà một tiếng!

Đó, miếng ăn “hiếm quí” phát xuất từ “nước lạ” đấy! Khiếp chưa! Cái triều ĐẠI HÁN đã từng sai Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân sang xâm lăng Việt Nam (1789), bị vua QUANG TRUNG (Nguyễn Huệ) đánh cho vỡ mật đấy (*)

 


  1. Cách bắt khỉ

 

2a. Cách bắt khỉ ở rừng U Minh  

 

Người tiền phong khai hoang ở U Minh đã bày ra nhiều cách lạ lùng để săn khỉ. Họ dùng lưới, mỗi tấm lưới to bằng cái nhà. Lưới đan bằng dây gai thật chắc, bốn góc tấm lưới buộc dính bởi bốn sợi dây, bốn dây nầy buộc vào một sợi dây dài và chắc khác. Thợ săn khỉ vào rừng một mình, mang theo tấm lưới và vài nải chuối chín. Ðến nơi nào có nhiều khỉ, họ chọn khoảng đất trống, trải lưới ra, phủ cỏ lên dấu. Rồi họ leo lên cây mà ngồi chờ đợi, nắm trong tay sợi dây dài nói trên, sau khi vắt nó qua một cành cây cao.

Từ trên cao um tùm, họ quăng xuống từng trái chuối chín vào khoảng giữa tấm lưói vô hình (ẩn dưới cỏ) ấy.  

Bọn khỉ thấy chuối thì ham, xúm nhau chạy tới, con này hú gọi con kia, bày đàn kéo đến mỗi lúc một đông. Ngưòi thọ săn cứ quăng chuối để làm mỗi nhử. Ðến lúc nào đó, người thợ săn bèn giựt (rút) sợi dây dài trong tay, bốn sợi dây kéo bốn góc lưới lên. Lũ khỉ mê ăn bị tóm lại, gói trọn trong tấm lưới.

Các bạn thấy chưa, vì ham ăn và tính BÀY ĐÀN, hú gọi nhau mà lũ KHỈ bị tóm trọn !

 

2b. Cách bắt khỉ theo Lâm Chương

 

Sau đây mời các bạn xem cách bắt khỉ đầy “ấn tượng” trong một bài viết của nhà văn Lâm Chương:

“Phía ngoài, gần bên hông lều, một cái hố đang đào dở. Hố rộng bằng căn phòng nhỏ. Theo lời anh Khan, còn phải đào sâu hơn nữa, khoảng hai thước.

Lúc mới đến, tôi hỏi: “Đào hố để làm gì?”

Anh nói: “Bắt khỉ.”

Tôi ngạc nhiên: “Bắt khỉ?”

“Ừ , bắt khỉ.”

“Để ăn thịt?”

“Khỉ ốm, chỉ có da bọc xương. Thịt khỉ lại tanh, không ai ăn.”

“Không ăn thì bắt để làm gì?”

“Để đuổi khỉ.”

“Bắt khỉ để đuổi khỉ? Tôi không hiểu.”

“Cứ ở đây vài hôm thì hiểu.”

Anh Khan không giải thích. Có lẽ anh muốn dành cho tôi một lý thú bất ngờ.

Sau vụ bẫy heo rừng. Anh Khan cho biết đàn khỉ đã kéo về lảng vảng vùng này rồi. Nhưng chừng nào chúng đến tảo thanh rẫy bắp thì chưa biết. Một hôm, tôi thấy vài con khỉ nấp ló trên cây. Anh Khan nói, đó là những con tiền sát, đi dò địa bàn hoạt động. Khỉ là loài tinh khôn sau loài người. Chúng sống có đàn. Mỗi đàn có một con khỉ đầu đàn. Con này sẽ dẫn đàn đi kiếm ăn rày đây mai đó, như những bộ tộc du mục thời xưa. Chúng đến cái rẫy nào một lần, sẽ lẩn quẩn ở đó nhiều ngày, ăn cho tàn mạt rồi mới chịu đi nơi khác. Con khỉ đầu đàn, không vào rẫy. Nó ngồi trên ngọn cây cao để canh chừng, và xua con cháu vào mục tiêu, ăn cho no, còn độn hai bên má làm phần dự trữ. Trước khi rút lui, chúng còn mang theo một hoặc hai trái bắp làm chiến lợi phẩm, và đóng thuế cho con khỉ đầu đàn. Khi nào con khỉ đầu đàn la ré lên là báo hiệu có biến, đàn khỉ đang ăn sẽ bỏ chạy, mất trật tự còn hơn cuộc di tản chiến thuật từ cao nguyên về miền biển. Tôi hỏi thế những cái thùng thiếc khua động chung quanh rẫy, không có tác dụng làm chúng sợ hay sao? Anh Khan nói, cũng có tác dụng trong những lần đầu, nhưng nhiều lần sau chúng quen, không sợ nữa. Khi ta ở trong lều, thì chúng phá ngoài rẫy. Khi ta ra rẫy, chúng kéo vô trong lều, lục phá tan hoang đồ đạc.

Một buổi trưa, nghe tiếng khọt khẹt ngoài rẫy, anh Khan giựt dây khua thùng báo động và chạy ra xem. Một vạt bắp bị phá. Nhiều cây gảy gục và trái bị cạp lem nhem dang dở.

Anh nói: “Chỉ mới đợt đầu mà thiệt hại như thế, thì đàn khỉ này có thể đông gần trăm con.”

Tôi ra bìa rẫy, nhìn lên những ngọn cây rừng, tất cả đều im lìm.

“Chúng đã chạy xa hết rồi.” Tôi nói.

“Chưa chắc. Có thể chúng nấp đâu đó trong những vòm lá. Thử ném mạnh một viên đá lên thì biết ngaỵ”

Tôi ném viên đá, không thấy động tĩnh gì. Anh Khan ném một khúc gỗ mục lên tàng cây khác. Bỗng nghe ào ào trên cây. Bầy khỉ hốt hoảng chuyền cành, đổi chỗ ẩn nấp. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, tất cả đều im lìm trở lại. Nhìn kỹ sẽ thấy vài con thu mình trong lá, hai mắt thao láo nhìn xuống.

Trở lại lều, anh Khan chuẩn bị bắt khỉ bằng cách đâm một chén muối ớt thật cay, trộn với cơm nguội, để xuống hố. Anh dựng thêm một cây tầm vông từ dưới lên miệng hố, và giải thích, cây tầm vông làm cái thang cho khỉ xuống hố. Gặp cơm trộn ớt đỏ, nó sẽ bốc ăn, cay quá chảy nước mắt, nó sẽ đưa tay dụi mắt. Tôi cười, bàn tay dính ớt mà dụi vào mắt, thì chỉ còn có cách làm hiệp sĩ mù nghe gió kiếm mà thôi.

Chuẩn bị xong, anh Khan kéo tôi ra một góc rẫy, nơi bìa rừng, ngồi dưới bóng cây tọ Anh nói, bỏ trống cái lều, nhường cho bầy khỉ. Nhưng suốt chiều hôm đó, không có con khỉ nào bén mảng vào lều.

Hai hôm sau. Trên đường từ nhà Y Nôm trở về, vừa đến rẫy đã nghe tiếng con khỉ đầu đàn trên ngọn cây ngoài rừng la ré lên, anh Khan chạy vội vào lều. Bầy khỉ tuôn ra, phóng chạy. Đồ đạc trong lều bị phá tung, vất bừa bãi. Dưới cái hố, bên hông lều, những con khỉ còn kẹt lại, tranh nhau leo lên bằng cây tầm vông. Cứ con này ôm cây tầm vông leo lên, thì con kia sợ hãi nắm đuôi kéo xuống, giành leo lên trước. Rốt cuộc, không con nào lên được miệng hố. Chúng quờ quạng, loi choi, bưng mặt, dụi mắt, và la chí choé. Anh Khan rút cây tầm vông lên. Thế là những con khỉ dưới hố đã hoàn toàn bị nhốt. Tôi đếm được bảy con.

Tôi hỏi: “Đã bắt khỉ rồi. Bây giờ, làm cách nào đuổi khỉ?”

“Đến giai đoạn này, mọi chuyện sau đều dễ dàng.”

Tất cả đồ nghề đã chuẩn bị từ trước. Anh Khan dùng thanh cây, một đầu có buộc thòng lọng, tròng vào cổ từng con, kéo lên, trói lại. Anh lấy kéo cắt lông trên đầu khỉ, như bị cạo trọc. Và lấy sơn màu đen đỏ trắng vàng, phết lem nhem lên đầu, lên mặt khỉ, trông rất khôi hài. Xong, anh mở trói, thả nó chạy vào rừng. Lại lôi con khác lên, hớt lông, sơn đầu…

Anh Khan giải thích, khỉ có khuynh hướng nhập bầy. Những con khỉ này, nó sẽ chạy đi tìm bầy để nhập. Nhưng những con khỉ khác không còn nhận ra bạn nữa, và tránh xa nó như con vật quái đản. Tự bản thân con vật bị sơn mặt, nó không biết nó quái đản, nên bầy khỉ càng chạy tránh, nó càng bám theo để nhập bầy. Cứ thế, một bên chạy, một bên bám riết, càng ngày càng đi xa, thật xa.

“Rồi nó sẽ về đâu?”

“Rừng núi bao la muôn trùng, ai biết sẽ về đâu.”

“Những con khỉ bị bôi sơn lên mặt, rồi sẽ ra sao?”

“Cũng không ai biết sẽ ra sao. Nếu nó cứ bám riết theo bầy, có thể một ngày nào đó, con khỉ đầu đàn sẽ cắn nó chết.”

Sáng mai, tôi sẽ rời khỏi lều rẫy, bỏ lại núi rừng, từ giả anh Khan để đi một nơi thật xạ Trong đêm, tôi nằm thao thức trên chiếc võng, không ngủ được. Nhìn ánh trăng khuya lạnh lẽo soi vào căn lều trống trải, tôi nghĩ đến những ngày cô đơn của anh Khan giữa đám rẫy đìu hiu. Tôi lại nghĩ đến đàn khỉ cứ chạy mãi, chạy mãi, không biết giờ này chúng dừng lại hay chưa? Anh Khan cũng không ngủ được. Anh ngồi dậy vấn thuốc, bất ngờ anh hỏi tôi, nghĩ thế nào về những con khỉ bị sơn mặt? Tôi nói, nếu ở Âu Mỹ, Hội Bảo Vệ Súc Vật sẽ can thiệp cho nó. Anh bảo, khi tôi sang xứ người, nên tìm đến cái Hội Bảo Vệ Súc Vật, để nhờ họ che chở. Và nhớ hỏi họ, rằng giữa vùng rừng núi Việt Nam, có những “con khỉ người” đang bị sơn mặt, họ có bảo vệ không?     

(Lên Rừng Thăm Bạn- Lâm Chương)

 

@. Xin được ghi thêm: Khỉ rất sợ con Cóc, gặp con Cóc là Khỉ ta vỡ mật, kinh hồn (NL)

 

NGƯỜI KHỈ (NGƯỜI RỪNG)

 

Bạn đã từng nghe nói về người  biến thành hổ trong chuyện Ngậm Ngãi Tìm Trầm của Thanh Tịnh, còn người biến thành “người rừng” bạn được nghe kể chưa? Thì đây:

 

” … Chúng tôi bằng mọi giá phải đến những cánh rừng phía nằm sâu trong vùng đất Lào. Chúng tôi phải có bổn phận tìm kiếm một giống sinh vật quí hiếm nhất còn sót lại trên địa cầu. Đó là Forest people, một họ của Hairy Hominids, được gọi chung là Bigfoot. Liệu giống loại nửa người nửa khỉ đột này còn tồn tại không

Năm ngày đầu tiên khi đến Việt Nam quả hết sức bận rộn cho chúng tôi. Phải gặp các viên chức trung ương, rồi địa phương, phải trao đổi ý kiến với các nhà khoa học Việt Nam, phải đọc rất nhiều tài liệu liên quan đến người rừng, phải đi phỏng vấn một số dân thiểu số. Dù vậy, chứng liệu vẫn còn mơ hồ. Bởi khi nói đến Người Rừng, người ta chỉ nói đến những huyền thoại như chuyện ma cổ mà tôi đã từng đọc trong tiểu thuyết của Lan Khai hay Thế Lữ ngày trước. Họ nói đến chuyện một người bị lạc vào rừng, và bị một đàn khỉ đột bắt và con vượn cái – một chúa đầu đàn – bắt làm chồng. Họ nói về những tiếng hú lanh lãnh suốt đêm nghe từ xa lắm, và tiếng cây rung chuyển, lá rụng đầy, dù chẳng có một cơn mưa hay gió bão có mặt trên vùng. Một người lính phục viên cũng nhắc lại, anh đã nghe cả tiếng Sát trong đêm khi đơn vị anh đóng quân dưới một cánh rừng già. Không phải một mình anh nghe mà nhiều người cũng nghe như anh …

… Và có lẽ mắt tôi hoa lên rồi. Rõ ràng trước mắt tôi, bên kia bờ suối, một đám dã thú đang hiện mập mờ. Trong sương và trong ánh trăng, chúng như những dã nhân với thân hình đầy lông lá. Tóc phủ dài đến tận mông. Và râu chúng tua tủa. Có con thật cao lớn như Mỹ. Có con nhỏ và thấp như người Việt Nam bình thường. Mỗi con đều mang khố vải. Loại vải rằn Biệt động quân, hay màu tro xám của phi công hay cả vải màu nylong xanh bộ đội Bắc Việt. Chúng đứng sắp hàng như một đội quân tập họp. Sau đó chúng vừa đập loạn xạ vào ngực chúng.

Tôi chạy đến lều gọi hai ông tiến sĩ trưởng đoàn và phó trưởng đoàn. Họ cùng chạy ra bờ. Nhưng họ không thấy gì. Chỉ có chăng là một giòng trăng và tiếng ầm ầm của dòng thác từ xa dội về. Chỉ có chăng là những thân đại thụ vươn lên như hàng quân bên kia bờ suối. Họ ngạc nhiên nhìn tôi. Tôi cố gắng thuyết phục họ, nhưng họ vẫn không tin. Ông Mano ái ngại dùm tôi:

Xem chừng anh bị bệnh rồi đấy.

Cách đây không lâu, vào cuối năm 1998, tôi được đọc một bản tin ngắn đánh đi từ trong nước. Bản tin ấy cho hay chính quyền Quảng Ngãi mới đây vừa bắt giữ một người Rừng. Anh ta nguyên là một hạ sĩ quan thuộc tiểu đoàn 70 Biệt Động Quân Biên Phòng. Anh và hai người bạn vượt ngục vào năm 1979. Khi bị bắt, người lính VNCH, gốc Hré, đã không còn gì hết, trừ chiếc khố bằng vải rằn. Các phóng viên diễn tả anh như một người tiền sử nửa người nửa vượn. Anh ta rất khó khăn khi nói trở lại tiếng mẹ đẻ của mình… Anh chỉ hú lên những tiếng hú ai oán.

Quả thật vậy không? Nhưng làm sao tôi có thể thuyết phục được hai vị tiến sĩ, giáo sư của tôi về một sự xuất hiện của một chủng loại người rừng mới, chỉ có mặt tại Việt Nam.”

(trích Mặc Niệm Chiến Tranh-Người rừng-Trần Hoài Thư)

 

TAM ĐOẠN LUẬN

 

Trong TÂY DU KÝ, Tề Thiên là biểu tượng của trí tuệ, lý trí; đến Trư Bát Giới của bản năng, ái dục  và Sa Tăng của tình cảm.

Ta thử dùng Tam Đoạn Luận của Aristotle (Triết gia Hy Lạp) áp dụng cho KHỈ xem sao !

 

  1. (đại tiền đề)      Trí tuệ là (biểu tượng) KHỈ.
  2. (tiểu tiền đề)     Các quan XHCN là “đỉnh cao trí tuệ”.  
  3. (kết luận)             Do đó, các quan XHCN là KHỈ.

 

Đúng không?. Bằng chứng là Ngài TT “Cờ lờ mờ vờ” “Ma dzê in Việt Nam” (**) và các Ngài quan chức CS VN đó. Họ đang giở trò KHỈ, bắt chước “y chang” các trò của ĐẠI HÁN đàn anh, đàn áp dân chúng. Những con KHỈ này đang quậy phá rồi giao nộp lần lần đất nước VN cho ngoại bang.

Những con KHỈ này đâu ra?

Chính là lũ KHỈ ở rừng U Minh, HÁM LỢI (chuối) và BÀY ĐÀN (hú gọi nhau); bị thợ săn ĐẠI HÁN tóm gọn đem về nuôi dưỡng, nay thả ra chớ đâu

Hãy nhớ lại câu thành ngữ “Nuôi khỉ giữ nhà” trên, giao cho nó giữ NƯỚC NHÀ thì nguy hiểm lắm !

 

LỜI KẾT

 

Qua chuyện của Lâm Chương và Trần Hoài Thư ta thấy “có những CON KHỈ NGƯỜI bị sơn mặt” và sự xuất hiện một chủng loại mới: NGƯỜI RỪNG. Vâng, một chủng loại “người rừng mới“,  chỉ có mặt ở Việt Nam. Còn “con khỉ người” đang bị sơn mặt Hội Bảo Vệ Súc Vật có bảo vệ không?

Theo thuyết tiến hoá của Darwin, phải cần vài triệu năm cho KHỈ tiến hoá thành NGƯỜI, nhưng có một nơi nào đó (tự sướng là tiên tiến nhất thế giới) chỉ cần vài năm là NGƯỜI sẽ biến thành “NGƯỜI RỪNG”, biến thành “VƯỢN NGƯỜI” !… Và cuối cùng thành KHỈ!

Ở xứ đó mọi người đều bình đẳng, đồng chí (đ /c) tất! Này nhé: đ/c TBT, đ/c Thủ Tướng, đ/c Đại Tướng, đ/c Thủ Truởng, đ/c Giám Đốc, đ/c gác cổng, đ/c oshin (ở đợ)  .v.v…Nhưng “thằng” ngụy quân, ngụy quyền!!!

Đúng quá chứ còn gì nữa! Chúng nó đâu cùng chủng loại mà muốn ngang hàng, mà muốn bình đẳng! Chúng nó đã thoái hóa thành vượn, thành khỉ hết rồi, phải không? Đòi bình đẳng cái nỗi gì? Hoan hô sự “vĩ đại” của Đảng ta!

Đảng ta có thể HÔ BIẾN tất cả, giống như Tề Thiên. Đảng đã và đang HÔ BIẾN những gì của dân tộc và đất nước thì các bạn chắc hiểu rõ !

 

Ai muốn chép công ta chép oán

Công riêng ai đó oán ta chung (+)

(Vô danh thị)

 

Nguyên Lạc      

………………………………………………………………………………………………………………………………

Nguồn:  Đặng Tiến, Sơn Nam, Trần Hoài Thư, Lâm Chương, Hoàng Tuấn Công, Chim Việt

Cành Nam, Á Châu Thời Báo,  Wikipedia, Facebook

(+) Ghi chú:  Bài thơ mỉa mai MÃ VIỆN (Phục Ba tướng quân)

Trèo non vượt bể biết bao công,

Một trận hồ Tây chút vẫy vùng.

Quắc thước khoe chi mình tóc trắng,

Cân thoa đọ với gái quần hồng.

Gièm chê đã chán đầy mâm ngọc,

Công cán ra chi mấy cột đồng.

Ai muốn chép công, ta chép oán,

Công riêng ai đó oán ta chung.

(Phục Ba tướng quân – Vô danh thị)

Bài thơ này được Đoàn Như Khuê sao lục, không rõ tác giả, và được đăng trên Nam phong tạp chí số 8, tháng 2 năm 1918, mục Vịnh sử.

Ghi chú:

(*) Vua Càn Long (nhà Thanh)(1789) sai Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân sang xâm lăng Đại Việt. Nguyễn Huệ (Hoàng đế Quang Trung) đập tan quân xâm lược ngay trước ngày chúng động binh, đó chính là chiến thắng Đống Đa ngày 5 Tết Kỷ Dậu.

 

(**) Ngài Thủ Tướng  Ma dzê in Việt Nam:

https://www.youtube.com/watch?v=HKGwKVeE0Wg

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: