Vài Ý nghĩ về ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Trần Hoàng Hoa

 

Lời giới thiệu của Nguyễn Liệu

Trần Hoàng Hoa là  một bút hiệu của Trần Văn Hưng, giáo sư văn chương triết học trường nữ trung học Quảng Ngãi và Quảng Ngãi Nghĩa Thục trước năm 1975.

Sau 7 năm tù cộng sản, vượt biên, hiện ở tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Về đề tài 30 tháng Tư, có hàng trăm bài, nhưng bài dưới đây tuy ngắn gọn,  nhưng rất đầy đũ. Tác giả thẳng thắn nêu ra những nguyên nhân cơ bản làm cho miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản.

Tác già can đảm chỉ trích những khuyết điểm của chánh quyền miền Nam suốt tứ 1954 đến 1975, và đó chính là những nguyên do chính làm cho mất nước. Tác giả đã thể hiện được lương tâm của người trí thức Việt Nam yêu nước.

Với một bút pháp gọn gàn, trôi chảy, theo tôi, đây là một bài rất có giá trị về nội dung lẫn hình thức.

Vài Ý nghĩ về ngày 30 tháng 4 năm 1975

Trần Hoàng Hoa

Ngày 30/04/1975 là ngày mở đầu một trang sử tang thương của đất nước và cũng là ngày mở đầu một thân phận nghiệt ngã cho mỗi người của dân tộc Việt Nam (VN). Lịch sử, tất nhiên không phải là một định mệnh, mà là một sản phẩm của con người; là tiến trình những tác động (qua hoạt động, chủ trương, chính sách) mà các nhà chính trị, các nhà cách mạng, các nhà lãnh đạo đã tiến hành trong những hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Vậy những tác động nào đã đưa đến hệ quả ngày 30 tháng 4 năm 1975?

Phải chăng vì miền Nam bị ép buộc phải ký một hiệp định (Paris) thừa nhận quân Bắc Việt ở lại miền Nam là nguyên nhân của sụp đổ? Phải chăng vì Hoa Kỳ đã cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nên VNCH mới sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975; như chúng ta vẫn thường được nghe nhiều người, kể ca nhưng cựu viên chức cấp cao dân sự và quân sự của chính quyền miền Nam thường xác quyết.

Để đánh giá những lời giải thích này, có lẽ chúng ta phải xem xét, dù chỉ khái lược, những hoạt động của các chính quyền miền Nam từ những ngày Hoa Kỳ bắt đầu can thiệp vào VN, cho đến ngày miền Nam sụp đổ.

Ngày từ đầu năm 1950, tức là 5 năm sau ngày chiến tranh Pháp – Việt Minh bất đầu; cũng là thời gian ngắn sau ngày Mao chiến thắng ở Hoa Lục, Hoa Kỳ lo ngại Cộng Sản sẽ nhận chìm Đông Dương nên vội mở rộng chính sách ngăn chận (Containment Policy) sang Đông Nam Á bằng biện pháp viện trợ quân sự và tài chánh cho chính phủ Pháp và chính quyền Bảo Đại, để Pháp tăng cường hoạt động quân sự ở Đông Dương và để Bảo Đại xây dựng Quân đội Quốc gia VN, cùng Pháp chiến đấu chống lại Việt Minh Cộng Sản.

Quân đội Quốc Gia VN nhờ đó đã phát triển thành một lực lượng khá lớn (đến 250 ngàn quân vào thời điểm năm 1954). Nhưng vì Bảo Đại thiếu trách nhiệm và không nhiệt tình với đất nước nện:

  • Đã không tận dụng phong trào giải thực lúc bây giờ đã phổ biến ở Á Châu (các nước đã được trả độc lập năm 1946 là Ấn Độ, Phi Luật Tân; năm1947 là Miến Điện; năm 1949 là Indonesia)
  • Đã không quy tụ các thành phần quần chúng, các đảng phái và giáo phái thành một mặt trận quốc gia
  • Đã không tích cực vận động mạnh với Pháp, với Hoa Kỳ để VN sớm được trả độc lâp, tức sớm có chình nghĩa, sớm trở thành một quốc gia có thực lực chính trị và quân sự để đối đầu với Việt Minh Cộng Sản; mà nếu không thắng được Việt Minh cũng đã là một quốc gia đối lực ngang ngữa với Việt Minh, ngăn ngừa được ý đồ xâm lược của Hà Nội sau này.

Quả là Bảo Đại đã bỏ qua một cơ hội để đất nước thoát khỏi cuộc chiến 21 năm sau đó.

Đến sau ngày Hiệp Đinh Geneva 54, Quốc gia miền Nam vỹ tuyến 17 vẫn được gọi là Quốc Gia Việt Nam và vẫn dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại với Thủ tướng Ngô Đình Diệm vửa được bổ nhiệm tháng 6/54. Vì cho rằng Hiệp Định Geneva là một “thảm họa” có thể dẫn đến mất cả Á Châu nên Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thóng Eisenhower nổ lực củng cố chính sách ngăn chận Cộng Sản bằng chính sách yểm trợ quốc gia VN: “Phát triển và dùy trì một quốc gia mạnh mẽ, tồn tại được và có khả năng chống lại mưu toan lật đổ và xâm lược bằng vũ lực” (1) và xây dựng miền Nam thành “ một khu vực chứng minh cho nền dân chủ ở Á Châu” (2)

Để miền Nam đạt được 2 mục tiêu trên, điều đáng lưu ý là mục tiêu thứ 2, tức phát triển miền Nam thành một nước dân chủ chưa bao giờ được Diệm thực hiện, dù đã nhiều lần hứa, nhưng Hoa Kỳ, qua 2 thời Tổng Thống Eisenhower rồi Kennedy chỉ khuyến cáo mà không có thái độ hay áp lực nào; vẫn tiếp tục cung cấp viện trợ quân sự, tài chánh và chuyên viên các ngành cho Diệm trong suốt 10 năm. Đến ngày chế đọ Diệm sụp đổ lực lượng quốc phòng miền Nam đã có đến nửa triệu và tổng số viện trợ đã lên đến 2 tỷ rưởi (3).

Thật là hân hạnh cho Diệm! Nhưng cũng là bất hạnh cho nhân dân miền Nam.

Vì, dù thủ đắc được nguồn hổ trợ dồi dào của Hoa Kỳ như vậy, Diệm vẫn không hình thành được một phương sách điều hành thích hợp, vận dụng được sinh lực quốc gia vào mục tiêu tối hậu là phát triển đất nước và đánh bại cuộc xâm lược của cộng sản Hà Nội. Đáng ra phải điều hành quốc gia bằng một tầm nhìn bao quát của một nhà chính trị tức thời, Diệm lại cai trị quốc gia bằng một chế độ vừa trung ương tập quyền vừa gia đình trị  – một chế độ vô cùng độc tài và khép kín (Super Oliglarchy)  Chế độ Diệm bao gồm: Thiết lập một guồng máy công quyền mà trong đó mọi vai trò chỉ huy cao hay thấp đều do ông và anh em ông tuyển chọn theo tiêu chuẩn riêng, không căn cứ trên tài năng, kinh nghiệm, thiện chí mà căn cứ vào lòng trung thành với chế độ và hiệu năng phục vụ lợi ích riêng tư cho mỗi người của anh em ông. Loại bỏ, trấn áp, tiêu diệt, bỏ tù các thành phần giáo phái, đảng phái, những cá nhân có nhiệt tình góp sức phục vụ quốc gia không đồng chính kiến hay không đồng ý với lối cai trị của ông và anh em ông – Những người anh em ông chiếm giữ những trung tâm quyền lực quá to lớn, chi phối mọi hoạt động chính trị và kinh tế quốc gia. Chủ trương kỳ thị địa phương, kỳ thị tôn giáo sâu sắc.

Một chế độ tiêu cực như vậy tất phải sinh ra những hệ lụy vô cùng nguy khốn cho đất nước: lập công, lạm dụng quyền thế, bất công, tham nhũng, phân hóa, quần chúng xa lánh và thù ghét chính quyền … tạo điều kiện thuận lợi cho Cộng sản tuyên truyền, lôi kéo và kết nạp.

Thật vậy, bắt đầu mở lại cuộc xâm lược vào giữa năm 57, đến đầu năm 60, tức chỉ hơn 2 năm sau; cộng sản đã đủ mạnh để bắt đầu tấn công các thị trấn, quận lỵ, các căn cứ phòng vệ của quân đội chính phủ có quân số ở cấp tiểu đoàn, trung đoàn (như cuộc tấn công vào hậu cứ của một trung đoàn ở Trảng Sập/ Tây Ninh). Chế độ Diệm hầu như bất lực trước sự phát triển ngày càng tăng của Cộng Sản, để tiếp theo những năm 61, 62 sau đó, Cộng Sản đã chủ động mở hết cuộc tấn công này thì tổ chức phục kích khác, phá hoại đường quốc lộ, đường xe lửa, tấn công và chiếm giữ các tỉnh lỵ (Phước Thành, Kiến Hòa) gây nhiều thiệt hại nặng nề cho quân đội chính phủ. Đến cuối năm 62, thì Cộng Sản đã kiểm soát được một nửa vùng nông thôn của vùng tiếp cận Sài Gòn và 80% nông thôn toàn quốc (4).

Đến nổi đầu năm 62, Diệm phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp của quốc gia (State of Emergency) và gởi thông điệp đến 92 nước trong khối tự do, yêu cầu giúp VN chống Cộng Sản và đồng thời yêu cầu Tổng Thống Kennedy tăng thêm viện trợ và gởi quân đội bảo vệ miền Nam!

Trong thời gian chưa được 5 năm mà đã để mất 80% lãnh thổ quốc gia vào tay Cộng Sản và Diệm phải ban bố tình trạng lâm nguy và yêu cầu thế giới giúp đỡ, đã nói lên tình trạng miền Nam suy sụp đến mức nào và đồng thời cũng chứng tỏ chế độ Diệm đã thoái hóa ra sao!

Và như vậy, không phải là miền Nam đã bất đầu sụp đổ ngay từ ngày cầm quyền của Diệm đó sao?

Rồi đến nhưng năm tháng sau năm 63, tuy Diệm đã ra đi nhưng quồng máy nhân sự của Diệm* vẫn còn và vẫn còn nguyên.

Cũng chính từ quồng máy này, sẽ sinh ra những chế độ Diệm nối dài Khánh, Thiệu, mang đủ “gene” phe phái, tham nhũng, bất công, thiếu khả năng, quá khích tôn giáo, thủ lợi … để tiếp tục làm suy nhược miền Nam, trước khi bị những  nhát dao trí mạng của Cộng sản Hà Nội.

Đến cuối năm 64, tức chỉ sau một năm Khánh cầm quyền, tình hình miền Nam đã vô cùng nguy ngập. Chính quyền chỉ còn kiểm soát được nhưng khu vực dân cư ở thành phố và thị trấn, 90% lãnh thổ đã thuộc về đối phương!

Và như vậy, không phải là miền Nam đã sụp đổ với chế độ Khánh – chế độ Diệm nối dài hay sao?

Đầu năm 65, để cứu miền Nam khỏi sụp đổ và đồng thời để biến thế cờ đang thua thành bắt đầu chiến thắng (5), Johnson bắt đầu đưa quân đội Hoa Kỳ vào VN tham chiến. Đồng thời với việc đưa quân vào “lùng và diệt” Cộng sản trên lãnh thổ miền Nam, Hoa Kỳ còn tiến hành 2 chiến dịch dội bom miền Bắc và đường mòn Hồ Chí Minh và hạ Lào. Dần dần số quân tham chiến của Hoa Kỳ lên đến hơn nửa triệu quân và hàng triệu tấn bom đổ xuống liên tục trong 3 năm rưởi. Tuy đã gây thiệt hại năng cho Cộng Sản, nhưng phần vì Cộng Sản thu dụng được nguồn nhân sự ở thôn quê miền Nam, phần khác vẫn ngày đêm cho người len lõi xâm nhập, nên lựclượng Cộng Sản ở miền Nam không những không bị suy giảm mà vẫn được gia tăng ở mức độ khả dĩ, đối với quân số càng gia tăng của Hoa Kỳ.

Đến thời gian cuối năm 67, tức sau gần 3 năm mở rộng hoạt động chiến tranh với những sức mạnh cao điểm, đối phương tuy có suy yếu nhưng không suy yếu đến mức độ Hoa Kỳ đã dự liệu. Hoa Kỳ bắt đầu lo ngại về viễn tượng của một chiến tranh kéo dài và không chiến thắng – mà không chiến thắng tức là thất bại – (You lose if you don’t win).

Trong khi đang lo âu như thế thì giới lãnh đạo Hoa Kỳ bổng nhiên choáng váng khi bất ngờ nhận tin Cộng Sản tấn công vào 37 thành phố và tỉnh lỵ trên miền Nam. Quần chúng Hoa Kỳ thì ngỡ ngàng khi nhìn thấy trên màn ảnh TV quân đội của họ đang phải đánh nhau với kẻ thù ngay tại Tòa Đại Sứ của mình và ngay trong thủ đô của một quốc gia mà họ đã hơn 10 năm giúp đỡ, hao người tốn của. Quốc Hội Hoa Kỳ bắt đầu xét đến việc ngưng yểm trợ cuộc chiến tranh. Quần chúng Hoa Kỳ bắt đầu thất vọng và bất mãn với cuộc chiến mà chính quyền của họ đã và đang theo  đuổi. Cùng với nhưng phần tử chủ hòa, thân cộng, truyền thông dần dần kết hợp thành một phong trào quần chúng, tập hợp cả trăm ngàn người, diễn hành la hét đòi hỏi chấm dứt chiến tranh, đưa quân về nước, làm cho nội tình Hoa Kỳ rối loạn, phân hóa “như chưa từng xảy ra kể từ thời Nội Chiến”. Cuộc chiến tranh VN bắt đầu chuyển hướng. Và, tất cả những hoạt động của Tổng Thống Johnson trong thời gian 1 năm còn lại chỉ là nhưng nổ lực tìm kiếm một con đường rút lui cho cuộc chiến tranh, thúc đẩy đối phương chấp nhận một giải pháp tương đối công bằng để Hoa Kỳ ra đi trong danh dự, tức là ra đi không với tư thế của người chiến bại.

Đến năm 69, Hoa Kỳ với tân Tổng Thống Nixon chủ trương “thương lượng để chấm dứt chiến tranh, thu phục một hòa bình danh dự.” (6)

Thực ra thì đầu năm 68, phong trào chống đối chính quyền đã lên cao, nhiều viên chức cao cấp Hoa Kỳ trước đây ủng hộ chiến tranh đã quay qua chống dối chính quyền, và lúc mà “hiếm có ai còn nghĩ đến thắng trận. Mọi người đều muốn rút lui” (7) thì Nixon, dù là một người chống cộng triệt để, cũng không còn chọn lựa nào khác hơn là thương lượng để chấm dứt chiến tranh đưa tù binh về nước.

Nhưng làm thế nào mà ông có thể buộc đối phương chấp nhận một giải pháp (mà không nhượng bộ), khi mà Hà Nội thừa biết Hoa Kỳ không còn khả năng để tiếp tục cuộc chiến? Và chiến thắng sẽ thuộc về phía họ, nếu họ kéo dài cuộc chiến tranh?

Thực tế cho thấy ngoài kế hoạch rút quân hầu như được hoàn tất vào cuối năm 72, ông đã nổ lực qua 2 chương trình:

  1. Viet Nam Hóa (VNH) chiến tranh: Phát triển các quân chủng VNCH lên đến 1 triệu mốt người, để vừa thể hiện tinh thần cường quốc vừa giúp miền Nam có điều kiện bảo vệ và sống còn sau ngày Hoa Kỳ rút quân.
  2. Tấn công bằng không lực: Ông đã tận dụng ưu thế duy nhất còn lại là không lực để tấn công áp đảo Hà Nội, lãnh thổ Cambodia, miền Bắc, đường mòn Hồ Chí Minh và trên chiến trường miền Nam, mạnh nhất là trên 3 mặt trận An Lộc, Plei-ku và Quảng Trị, mà nếu không nhờ cuộc tấn công đó (đến 5 ngàn phi vụ B52) miền Nam đã không tránh được sụp đổ.

Tuy rằng những hoạt động quân sự đó đã gây thiệt hại khá nặng cho Cộng Sản và chỉ có Nixon – chỉ có một Nixon không dường được (The Unpredictable Nixon) mới dám bất kể quần chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ để làm được những việc mà không ai làm được như ông, nhưng những hoạt động ấy không có giá trị chiến lược (vì Hoa Kỳ không còn những điều kiện để ông có thể sử dụng) tác động đủ mạnh để ông có tư thế tại bàn đàm phán.

Nhưng dẫu có là anh hung đi chăng nữa, khi đã lỡ vận thì chỉ biết “lên nguồn đốt than”. Cuối cùng, trước khi bị Quốc Hội chủ bại buộc tay thêm và không có thể còn làm được gì để buộc Hà Nội (Nhất là War Powers Act – cắt mọi ngân khoản cho chiến trường VN, cuối tháng 12 năm 72), Nixon mở chiến dịch Line Backer II, dùng B52 trải thảm Hà Nội – Hải Phòng 12 ngày đêm, để buộc Hà Nội phải thừa nhận điều nhượng bộ của Hòa Kỳ!

Quả thật cái giá của sự thất bại chẳng bao giờ rẻ!

Đầu năm 73, Hiệp Định chấm dứt chiến tranh được ký kết. Một hiệp ước chẳng có hòa bình – vì chiến tranh vẫn tiếp diễn, cũng chẳng có danh dự gì cho Nixon và cho cả Hoa Kỳ – vì đã không buộc cộng sản Hà Nội rút quân ra khỏi miền Nam và buộc đồng minh ký vào hiệp định thua đó!

“Không buộc Hà Nội rút quân khỏi miền Nam” là điều Nixon bị nhiều người VN và ông Thiệu trách cứ khá nặng nề. Nào là Nixon bán đứng miền Nam cho Cộng Sản. Nào là Nixon đâm sau lưng nhân dân miền Nam. Ông Thiệu còn chê Nixon là không cao thượng, ỷ thế nước lớn ép nước nhỏ đồng minh.

Đúng ra mà nối thi người dân miền Nam có trách ông Nixon gì gì thì cũng là điều dễ hiểu vì có lẽ họ không hiểu những khó khan của ông, cho rằng  đã là Tổng Thống, mà Tổng Thống Hoa Kỳ nữa thì làm gì chẳng được, và cũng có thể họ không hiểu rằng Hoa Kỳ, vì nhiều lý do; đã thất bại với cuộc chiến tranh VN từ nhiều năm trước, nếu không muốn nói là từ thời Diệm và đến thời Nixon thì Hoa Kỳ đã rơi vào bước đường cùng đối với cuộc chiến VN, Nixon chỉ có đường lui mà không còn đường tiến.

Duy có điều ông Thiệu chê trách Nixon “không buộc quân đội Cộng Sản rút ra khỏi miền Nam” là điều quá đáng. Há lẽ ông Thiệu không biết rằng vì muốn tiêu diệt (chứ không phải chỉ buộc rút lui) số quân đội miền Bắc đó mà Johnson phải đưa qua VN một lực lượng đến trên nửa triệu người, cả một đội hàng trăm phi cơ, bắn và dội hàng triệu tấn bom đan, phải chịu hi sinh cả hàng chục ngàn quan nhân, tốn phí hàng trăm tỉ mỹ kim, mà phải đành chịu bó tay, để trách một Tổng Thống Hoa Kỳ vào thời “vịt què” của một Nixon?

Và, há lẽ ông Thiệu không biết rằng những tệ nạn bè phái bất công, tham lam, thủ lợi, tham nhũng, thưởng phạt bất công, thiếu khả năng … của tất cả các chính quyền miền Nam, trong đó ông và chính quyền ông đã chiếm một nửa thời gian 20 năm đã mở đường và nuôi dưỡng quân đội miền Bắc đó vào và ở lại miền Nam sao?

Còn bảo rằng vì thừa nhận số quan trên 100 ngàn miền Bắc ở lại miền Nam mà miền Nam sụp đổ, thì sự thật đâu phải số quân miền Bắc đó đột ngột xuất hiện trên miền Nam trước ngày ký hiệp định và làm cho miền nam sụp đổ sau đó, mà miền Nam đã sụp đổ và sụp đổ dần dần từ giữa năm 65, tức là từ ngày cầm quyền của Thiệu, với không những chỉ số quân miền Bắc 30 ngàn mà còn với số quân du kích miền Nam gồm 100 ngàn vào thời điểm lúc bấy giờ (1965). Và cùng với dịch vụ kinh doanh phi pháp (Rất nhiều, chỉ điển hình là cùng Phạm Sanh đầu cơ gạo, cùng Nguyễn Xuân Nguyên đầu cơ thuốc sát trùng và phân bón) ngày càng phát triển và giàu có của vợ chồng Thiệu trong gần suốt 10 năm, là sự phát triển ngày càng gia tăng của số quân du kích miền Nam đến gần 200 ngàn và số quân Bắc Việt trên 100 ngàn vào thời điểm ký hiệp định đó thôi.

Mãi cho đến hôm nay, sau thời gian 40 năm từ ngày miền Nam sụp đổ vẫn còn nhiều người cứ khăng khăng rằng vì bị Hoa Kỳ cắt viện trợ nên Miền Nam mới sụp đổ (Thiệu là người đầu tiên).  Vậy xin hỏi rằng nếu những năm 74, 75 miền Nam được viện trợ đầy đủ với mức 1.4 tỉ như những năm trước đó, có ai dám chắc miền Nam sẽ đứng vững, nếu Hà Nội mở cuộc tấn công, cở như cuộc tấn công mùa hè 72?

Dám nói rằng không có ai dám chắc.

Vì phải cần bao nhiêu tỉ nữa và bao nhiêu tỉ đó ở đâu: để mua được (cứ cho là mua được) cả hàng chục ngàn phi vụ chiến lược, chiến thuật và phi cơ vận chuyển, tàu hải pháo, bom đạn, thủy lôi … để không tập vòng vây, địa điểm tập trong quân, địa điểm tiếp liệu … trên miền Bắc và trên 3 chiến trường của mùa hè đỏ lữa đó để  đổ quân tăng cường phòng thủ, để phong tỏa Hải phòng … nói chung là để yểm trợ miền nam không sụp đổ?

Nói rõ hơn, ông Thiệu trách này trách nọ là để chạy tội trước lịch sử mà thôi.

Nói cho cùng, khi thừa nhận hiệp định Paris với những điều khoản không danh dự cho Hoa Kỳ và bất lợi cho VN, thì cả Nixon vẫn Thiệu đều là nạn nhân. Có điều khác nhau là: Nixon là nạn nhân của những thiếu sót và lầm lẫn của những vị tiền nhiệm, nên đã phải xoay xở trong những điều kiện hạn hẹp, để kéo đất nước ông ta ra khỏi vũng lầy ít thiệt thòi nhất. Còn Thiệu là nạn của chính mình vì đã tiếp tục phát triển những thiếu sót và sai lầm của những chế độ trước, để tiếp tục đẩy đất nước vào cuộc đổ vỡ tháng 4/75, mà đáng ra đất nước có thể tránh được, nếu ông có một chính sách điều hành quốc gia thích hợp! (trong những điều kiện khách quan là Hoa Kỳ đang thời kỳ tích cực yểm trợ VN và Cộng Sản rất yếu sau 68 rất thuận lợi cho ông).

Ngày nay, nhìn lại thời kỳ lịch sử 25 năm (50-75), nếu Eisenhower, Dulles, Kennedy đừng “vì chúng tôi không ai khá hơn Diệm” ( We know of no one better than Diem) mà nghe theo lời khuyến cáo của tướng Collins vào cuối năm 54 “Diệm không đủ khả năng trong vai trò lãnh đạo chính phủ và cần phải loại bỏ và nếu Hoa Kỳ không muốn thay thế ông ta thì các kế hoạch hổ trợ Đông Nam Á cần phải được xem xét lại” (8) để thay thế Diệm sớm nhất thì chắc rằng VN đã khác và Hoa Kỳ cũng có thể tránh được cuộc thất bại sau này!

  • Nếu các cố vấn quân sự cao cấp Hoa Kỳ và tướng Westmoreland xem xét chu đáo hơn đề nghị của Đại Tá Summers – giảng viên học viện chiến tranh Hoa Kỳ vào năm 65 rằng: Thay vì dùng chiến thuật “lùng và diệt”, truy lùng những toán du kích, chịu thiệt hại khá nhiều vì mìn bẩy và bắn sẻ và tấn công chớp nhoáng rồi lẫn trốn, quân đội Hoa Kỳ nên lập một phòng tuyến chạy dài phiá Nam, từ bở biển VN đến song Mekong, để ngăn chận xâm nhập vào Nam của Hà Nội. Việc truy lùng du kích là việc của quân đội VNCH. Đề nghị này không phải là không đáng được chấp thuận, nhưng bị bác bỏ. Phải chăng vì cấp bậc của Summers quá nhỏ? Nếu đề nghị này được tiến hành, có thể chiến tranh VN đã có kết quả khác.Và:
  • Nếu Bảo Đại không lấy hàng năm 4 triệu của Ngân Khố Hoa Kỳ để đốt trong những sòng bài ở thành phố Paris, mà có trách nhiệm với đất nước …
  • Nếu Diệm không cai trị độc đoán mả xây dựng một quồng máy công quyền liêm chính, bao gồm mọi thành phần quốc gia “tàivi dụng”, không coi quyền lợi của dòng họ hơn quyền lợi quốc gia …
  • Nếu Thiệu nhiệt tình yêu nước, quyết tâm thanh lọc hãng ngũ quốc gia, không tham lam thủ lợi, không khoáng trắng cho Hoa Kỳ chống cộng, mà yểm trợ nông dân và thành phần lao động, đừng buôn lậu ma túy làm nguy hại đến 34% quân nhân Hoa Kỳ đến đánh cộng sản giúp người dân miền Nam, và xây dựng một nền quốc phòng công bằng “dân vì binh”, “địa vì phòng” thì … Nhưng tất cả là “nếu”.

Những con người “trong cuộc” kể trên, họ là những nhà lãnh đạo, ít hay nhiều đều có những quyết định lỗi lầm thiếu sót và đã thay đổi sinh mệnh người dân miền Nam không những trong thời kỳ lịch sử của họ (50-75) mà còn kéo dài cho đến hôm nay. Có điều cần phải xác định là trong số họ có nhưng người đã sai lầm, thiếu sót rất chân thành và trung thực (honest mistake), chỉ vì động lực giúp dân VN có đời sống xứng đáng hơn. Điều lạ lùng là những người này đều là những người ở xa VN hàng vạn dặm. Dù họ thất bại nhưng người dân miền Nam không quên ơn họ. Và cũng kỳ lạ nữa là những nhà lãnh đạo VN thì sai lầm, thiếu sót một cách cố tình.

 

Và như vậy, không phải là những sai lầm, khiếm khuyết của các vị lãnh đạo Hoa Kỳ và VN trong suốt 25 năm (50 – 75) đã tích tụ đầy ly nước VN, mà, việc “không buộc được quân đội Bắc việt tút khỏi miền nam” và việc “Quốc Hội Hoa Kỳ cắt viện trợ cho miền nam” chỉ là hai giọt nước hệ lụy không tránh khỏi làm tràn ly nước miền nam – làm miền nam sụp đổ sao?

Lịch sử VN trong 200 năm qua của thời cận đại là lịch sử của một đất nước thiếu lãnh đạo. Đất nước đã không cho dân tộc những con người tài năng, lương tri và nhiệt tình yêu nước, để dân tộc phải gánh chịu thảm họa thực dân gần 100 năm  và phải đang mang ách thống trị độc tài Cộng sản hơn 70 năm  trong một thực trạng cơ hàn tan nát.

Trách nhiệm với thực trạng nầy, hẳn là trách nhiệm trước nhất và nặng nề nhất mà Hồ chí Minh và những người Cộng sản Hà Nội không thể nào trốn được, nhưng họ không phải là những người duy nhất. Vì, trừ ra những người đã hoàn tất nhiệm vụ của mình trong nổ lực chiến đấu chống lại chủ nghĩa Cộng sản phi nhân ở miền nam trước đây, cũng như những người đã và đang tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho dân tộc trong và ngoài nước hiện nay – còn lại tất cả những người VN, tùy theo vai trò, quyền hạn và chức vụ đều ít nhiều phải chịu trách nhiệm.

Những tội ác của những người Cộng sản Hà Nội và những tội lỗi của những người lãnh đạo miền nam đều có giá trị tích cực của nó, nếu những tội ác và những tội lỗi đó được nhìn như những bài-học-phải-học và phải-được-học từ những thế hệ tuổi trẻ trong hành trình triển khai vận hội mới quang phục quê hương thời hậu Cộng sản.

Và nếu được như vậy, há không phải là một hân hạnh cho đất nước, bù đắp lại những sai lầm bất hạnh mà thế hệ ông cha đã gây ra đó sao.

 

Trần Hoàng Hoa

Houston 24/4/2017

  1. “In developing and maintaining a strong, viable state, capable of resisting attempted subversion or aggression through military means” – Why we were in Vietnam, Norman Podhoretz, p/48.
  2. “A proving ground for democracy in Asia” –  The Vietnam War, An Almanac, p/63.
  3. Vietnam – A History. Stanley Karnow, p/241.
  4. The Vietnam War, an Almanac, p/76.
  5. “The question was how to change a losing game and begin to win” – Vietnam – A History. Stanley Karnow, p/251.
  6. “We are entering an era of negotiation to end the war and win the peace with honor” –  The Vietnam War, An Almanac, p/311.
  7. “Hardly anyone is interested in winning the war.  Everyone wants to get out”- Vietnam – A History. Stanley Karnow, p/411.
  8. “Diem is not equal to the task of heading the government and ought to be removed, and if the US is not willing to replace him, plans for assisting Southeast Asia ought to be reevaluated” – Why We Were in Vietnam, Norman Podhoretz, p/197.

Sách Tham Khảo:

  • Vietnam – A History, Stanley Karnow
  • The Vietnam War – An Almanac, Johnson S. Bowman
  • Why We Were in Vietnam, Norman Podhoretz
  • Memoirs of Richard Nixon
  • Việt Nam Nhân Chứng, Trần Văn Đôn
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: