Quẻ Dịch: Cách Lập Và Giải Đoán (tt)

Quẻ Dịch: Cách Lập Và Giải Đoán (tt)

LAC NGUYEN·THỨ BẢY, 19 THÁNG 11, 2016

(Bài 4)

                                                     C. GIẢI ĐOÁN QUẺ

Quẻ vạch đã lập, liền có lành dữ vì là Âm Dương đi lại giao thác ở trong. Thời của nó 

thì có tiêu đi, lớn lên khác nhau: cái lớn lên là chủ, cái tiêu đi là khách; việc của nó hoặc

 có nên chăng khác nhau, cái nên là thiện, cái chăng là ác. Theo chỗ chủ khách thiện ác 

mà phân biệt thì sự lành, dữ sẽ rõ. Vì vậy nói rằng: Tám Quẻ định sự lành dữ. Sự lành dữ 

đã quyết định không sai, thì dùng nó để dựng các việc, nghiệp lớn sẽ từ đó sinh ra. Đó 

là thánh nhân làm ra Kinh Dịch, dạy dân xem bói, để mở cái ngu của thiên hạ, để định 

cái chí của thiên hạ, để làm nên các việc của thiên hạ, là thế. Có điều từ Phục Hy về 

trước chỉ có sáu vạch, chưa có văn tự truyền được; rồi đến Văn vương Chu công mới 

đèo thêm lời, cho nên nói rằng: “Thánh nhân đặt quái xem Tượng, đèo Lời vào để tỏ 

lành dữ”. Khi Quẻ chưa vạch, nhân xem pháp tượng tự nhiên của trời đất mà vạch ra;

 đến lúc Quẻ đã vạch rồi, thì quẻ nào riêng có Tượng của quẻ ấy. Tượng nghĩa là có 

chỗ giống giống, cho nên thánh nhân mới theo tượng đó mà đặt ra tên. Văn vương 

coi hình tượng của quái thể mà làm Thoán từ. Chu công coi sự biến đổi của quái hào, 

mà làm Hào từ, cái Tượng của sự lành dữ lại càng rõ rệt.” (Ngô Tất Tố)

Như đã biết ở trên, Thoán  từ và Hào từ  quá đơn giản, ít ai hiểu, nên người đời sau phải 

chú thích thêm,  tổng hợp thành bản Thập dực. . Thập  dực  còn được gọi là Thập  truyện

(truyện là giải thích). Đại truyện giải thích Thoán từ,  Tiểu truyện giải thích Hào từ.

Sau khi lập được quẻ, ta đối chiếu với Kinh Dịch để tìm ra quẻ tương ứng. Căn cứ  vào lời lẽ

 của quẻ trong Kinh (Thoán  từ,  Hào từ và Thập  truyện) ta có thể xác định được cát hung họa 

phúc, đồng thời tìm ra biện pháp đối ứng.

Một số thuật ngữ cần biết:

 Tứ Đức: Đọc các quẻ, chúng ta sẽ gặp những chữ này: nguyên, hanh, lợi, trinh, mà Chu Dịch 

gọi là tứ đức, có thể hiểu là bốn đặc tính của các quẻ. 

Ý nghĩa thông thường của tứ đức đó như sau:  

– Nguyên là đầu tiên, lớn, trùm mọi điều thiện. 

– Hanh là hanh thông, thuận tiện, tập hợp các điều hay. 

– Lợi là nên, thỏa thích, hòa hợp các điều phải. 

– Trinh là chính, bền chặt, gốc của mọi việc. 

Và vài chữ khác:  Cát (một quẻ cát) nghĩa là tốt lành.  Hung ngược lại với cát, xấu 

nhất.  Hối là lỗi, ăn ăn.  Lận là lỗi nhỏ, tiếc.   Vô cữu là không có lỗi hoặc lỗi không 

về ai cả.

1/ Quẻ tĩnh

Khi đọc giải quẻ, nếu trong 6 hào không có hiện tượng hào biến:

— xem tên quẻ, tượng quẻ, thoán từ, thoán truyện để đoán định.

—  Không xem hào từ.

2/ Quẻ có hào động (hào biến)

Khi trong quẻ có hào động phải căn cứ theo các nguyên tắc sau:

— xem tên quẻ, tượng quẻ, thoán từ và thoán truyện của quẻ chủ (quẻ gốc)

— xem hào từ của hào động quẻ chủ

— xem thoán truyện của quẻ biến

Hào động rất quan trọng vì nó chỉ ra cát hung, được thua, còn mất… và chỉ ra nguyên nhân 

cùng cách ứng biến. Phải lấy hào từ của nó làm chủ (làm chính) dù nghĩa có ngược với 

thoán từ, thoán truyện!

Cách chọn hào chủ (hào từ) của các hào động

— Khi có 1 hào động:  xem hào từ của hào động đó 

— Khi có 2 hào động: Dựa vào hào từ của 2 hào biến trong quẻ biến để đoán định, 

đồng thời dựa vào hào biến phía trên để làm chủ (hào chủ) nếu 2 hào khác nhau, hào 

biến phía dưới  làm chủ nếu 2 hào  giống nhau.

— Khi có 3 hào động: Nếu hào biến không bao gồm hào sơ thì lấy quẻ gốc làm 

chính, nếu hào biến gồm cả hào sơ thì lấy quẻ biến làm chính và xem hào biến ở giữa 

là chủ.

— Khi có 4 hào động: Dựa vào hai hào tĩnh (không biến) để đoán định, đồng thời dựa vào 

hào tĩnh phía dưới làm chủ nếu 2 hào  giống nhau, hào tĩnh phía trên để làm chủ  nếu 2 

hào khác nhau

— Khi có 5 hào động: Dựa vào  hào tĩnh (không biến) của quẻ biến để đoán định.

— Khi cả 6 hào đều động: Quẻ Càn thì dùng hào từ “dụng cửu”, quẻ Khôn thì 

dùng hào từ “dụng lục” để đoán định. Các quẻ còn lại thì dựa vào quái từ và thoán từ, 

tượng từ, thoán truyện của quẻ biến để đoán định.

Trong sách bói, lý số, ngoài việc tìm biến quái  người ta còn dùng Quẻ hỗ (Hỗ quái):

Cách lập thành hỗ quái

– Trừ hào trên cùng, lấy từ hào 5 xuống ( 5,4,3), để lập ngoại quái 

– Trừ hào  dưới cùng, lấy từ hào 2 trở lên (2,3,4) để lập nội  quái

Thí dụ:  Quẻ Sơn Hỏa Bí trên (quẻ chủ), hào 5 (âm) là hào động, đổi âm thành dương 

thành quẻ  biến là  Phong Hỏa Gia Nhân và có quẻ hỗ là Lôi Thủy Giải                              

       ䷕                     ䷧                     ䷤ 

        quẻ chủ                                           quẻ hỗ                                     quẻ biến   

      Sơn Hỏa Bí                               Lôi Thủy Giải                      Phong Hỏa Gia Nhân  

Nhiệm vụ các quẻ:

— Quẻ chủ (quẻ gốc) là chủ của sự việc, cũng là giai đoạn đầu

— Quẻ hỗ là sự hỗ trợ để tìm diễn biến của sự việc, cũng là giai đoạn trung gian.

— Quẻ biến là chung cuộc, là kết quả.

Phải lấy quẻ chủ làm trung tâm, không được phân tán, xa rời. Khi không cần thiết thì 

không cần xem quẻ hỗ và quẻ biến.

                                                                                ***

Để hiểu thêm về phương pháp  đoán quẻ, chúng tôi trích một số mẩu chuyện sau đây để 

các bạn tham khảo.

1- C. G. Jung bói về việc viết Lời Giới thiệu Kinh Dịch cho bản dịch tiếng Anh

Gieo 3 đồng tiền, ông được quẻ Khảm  ䷜   với hào 3 động, do đó biến thành

 quẻ Tỉnh   ䷯ .

       ䷜                ䷯

          quẻ Khảm     —>          quẻ Tỉnh

Thoán từ quẻ Khảm bảo: Hai lớp Khảm( tức hai lần hiểm) nhưng có đức tin, chỉ trong lòng là 

hanh thông, cứ tiến đi (hành động) thì được trọng và có công.

Thoán từ quẻ Tỉnh bảo: Giếng đổi ấp chứ không đổi giếng, nước giếng không kiệt mà cũng 

không thêm, người qua người lại để múc nước giếng. Gần đến nơi (đến giếng) chưa 

kịp thòng cái gàu xuống mà bể cái bình đựng nước thì xấu.

Cứ theo Thoán từ 2 quẻ đó thì ông nên có đức tin, cứ tiến đi sẽ giúp ích được cho mọi người, 

như nước giếng. Còn lời khuyên thận trọng đừng để bể cái bình đựng nước thì có vẻ không 

liên quan gì đến điều ông hỏi cả, có thể bỏ.

Hào từ của hào 3 quẻ Khảm nói hào nầy âm nhu, bất trung, bất chính, ở trên quẻ

 nội Khảm, tiến lên thì gặp ngoại Khảm, toàn là hiểm cả, cho nên xấu.

Tuy nhiên đó chỉ là mới khởi đầu, chưa biến. Khi biến thành hào 3 quẻ Tỉnh thì hóa tốt, 

vì Hào từ bảo: Hào này là người có tài, ví như cái giếng nước trong mà không ai múc. 

Nếu được dùng  thì sẽ giúp cho mọi người được nhờ. Vậy là công việc làm sẽ có ích. Cái ý 

hiểm trong hào 3 quẻ  Khảm (quẻ chủ) không liên quan gì đến việc viết Giới thiệu , có 

thể bỏ.

Nhưng Jung cơ hồ không theo sát ý nghĩa hào 3 khi chưa biến và khi đã biến, chỉ dùng cái

 ý hào 3 quẻ Tỉnh rồi kết hợp với ý hào 1 cũng quẻ đó là cái giếng cũ, bùn lầy, không ai 

dùng nữa và đóan rằng nên viết lời Giới thiệu, vì Kinh Dịch “như một cái giếng cổ, 

bùn lầy lấp cả rồi, nhưng có thể sửa sang mà dùng lại được”. đòan như vậy không thật

 đúng phép (vì hào 1 quẻ Tỉnh, không phải là hào chủ, đáng lẽ không được dùng để

 đóan) nhưng có thể tạm chấp nhận được vì vẫn là dùng lời  trong quẻ Tỉnh, không 

lạc đề hẳn. 

2. Tấn Thành Công trở về nước :

Sách Quốc ngữ kể : Tấn Thành Công lưu vong ở Chu. Khi Thành Công trở về Tấn, 

một người nước Tấn bói xem lành dữ ra sao ?

 Bói được của  Càn (quẻ chủ)   với hào 1,2,3 động, do đó biến thành quẻ Bĩ    

Xem xong kết luận là việc Thành Công về Tấn bất thành. 

Quả nhiên là thế. Lập luận như sau : 

Càn là trời, là quân (vua), phối với trời là tốt. Nhưng quẻ dưới của Càn biến thành 

Khôn (là đất,là thần), tức là quân biến thành thần, nên không có kết quả. Quẻ lại 

có 3 lần biến, nên vua phải 3 lần ra khỏi nước. Lại thêm, Thoán từ: bĩ chi phỉ nhân, bất

 lợi quân tử trinh, đại vãng tiểu lai., nên kết luận là  không tốt, bất thành.

3.Trùng Nhĩ về nước :

Sách Quốc ngữ viết : Trùng Nhĩ  (sau này là Tấn Văn Công) muốn về nước làm vua, 

bói được quẻ  Dự:  ䷏     với hào 1, 4, 5  động  do đó biến thành quẻ Truân ䷂  

Đưa cho thầy bói xem và Tư Không Qu. xem.

Thầy bói cho rằng : Quẻ Truân dưới là Chấn (xe),trên  là Khảm (nước, đường bị nứt); tức xe 

không đi được (Như đã nói , xét Quẻ từ dưới lên trên),  là bế tắc không thông, việc 

không thành.

Tư Không Qu. dựa vào Thoán từ của quẻ Truân là:  nguyên, hanh, lợi, trinh, vật dụng, lợi du 

vãng, lợi  kiến hầu. Thoán từ quẻ Dự lại viết : Lợi kiến hầu hành sư. Rồi kết luận 

lợi kiến hầu là được việc  nước,  Trùng Nhĩ nên về nước.  Trùng Nhĩ về nước, làm 

vua Tấn (và sau này là Bá)

                                                                                     ***

Trước khi kết thúc, xin các bạn nhớ lại, sau khi lập được quẻ, ta đối chiếu với Kinh Dịch để

 tìm ra quẻ tương ứng.  Căn cứ  vào lời lẽ của quẻ trong Kinh (Thoán  từ,  Hào từ và Thập  

truyện) ta có thể xác định được cát hung họa phúc, đồng thời tìm ra biện pháp đối ứng.Nhớ 

là phải giải đoán từ dưới lên trên, từ Nội Quái lên Ngoại quái!

Đến đây,  xin tạm kết thúc những gì tôi đã biết trong quá trình học hỏi, mong các bạn tìm 

được một vài điều hữu ích. Tạm biệt các bạn!

Nguyên Lạc

________________________________________________________________

Tham Khảo:  Nguyễn Hiến Lê, Ngô Tất Tố, Wu Wei, Richard Wilhelm, Kiều Xuân Dũng, 

  Đông A Sáng, Internet, Facebook…

________________________________________________________________

Ghi chú thêm:

 Phương pháp tiến hành lập quẻ Dịch bằng thẻ tre (theo Đông A Sáng)

1. Vật dụng và nghi thức

a. Các loại thẻ :

— Dùng 50 cọng cỏ thi (hoặc 50 thẻ tre) dài 25 – 30 cm như đã nói trên, hợp thành một bó, 

dùng để bói.

— Dùng 6 thẻ tre dẹp nữa, mỗi thẻ  dài 3 – 4 inch (8 – 10 cm) x ngang 1/2 inch (1,5 cm) tượng

 trưng 6 hào ( để lập quẻ): trên  1 mặt vẽ nét đứt(- -) tượng trưng âm, màu đen; mặt đối vẽ 

nét liền (__), tượng trưng  dương, màu đỏ.

— Dùng 2 đồng tiền để gieo sấp ngữa

b. Những vật dùng để đựng các loại thẻ và cách bài trí :

—  Ống tre hoặc cái tráp, hộp

Dùng cái ống tre hoặc cái tráp (gọi độc), đường kính khoảng 8cm, có nắp đậy, để đựng 

50 thẻ.Trước khi bỏ thẻ tre vào ống hoặc tráp thì bọc bên ngoài bằng một tấm lụa điều 

(tỏ ý tôn trọng), rồi bỏ vào trong một túi lụa màu đen, rồi mới bỏ vào trong ống tre 

(tráp) và đậy lại.

—  Bình gốm  (hoặc đồng) :

Dùng cái bình bằng gốm để đựng 6 thẻ tre (tượng trưng 6 hào).

c.  Cách bài trí :

Người ta để ống tre (tráp,hộp) sau án thư. Trước cái tráp để  2 đồng tiền (dùng đoán sấp 

ngữa), trước  2 đồng tiền là bình gốm (hoặc đồng) đựng 6 thẻ, trước bình gốm là 

lư hương.

d. Các nghi thức :

Thanh tẩy, nghi thức này được tiến hành vào buổi sáng, trước khi điểm tâm; là để bụng 

trống, tắm rửa sạch sẽ. Thanh tẩy xong, thì thắp hương, thắp đèn (nến). Bày trên hương 

án 6 thẻ tre tượng trưng ( 6 hào) thành quẻ Địa Thiên Thái:    

Thắp hương xong, quỳ gối trên tấm nệm, đọc lời khấn: Thiên địa vô ngôn, tôi tin rằng Trời 

Đất cảm nhận được tâm thành mà soi sáng cho tôi được rõ nẽo cát hung (tốt, xấu).

Khấn xong, thả hai đồng tiền tròn xuống đất:

— Nếu một sấp, một ngữa thì có thể tiến hành dự đoán.

— Nếu cả hai  đều ngữa hoặc đều sấp là chưa được, phải ngồi định tĩnh lần nữa,

 sau đó lại thả tiếp hai đồng tiền. Nếu  vẫn sấp cả hoặc ngữa cả, thì kết thúc nghi thức, 

không dự đoán. Phải chờ đến lúc khác.

Tất cả nghi thức trên, vùa bày tỏ sự thành tâm, vừa thể hiện sự tập trung tính thần vào việc 

dự đoán.

2. Phương pháp tiến hành lập quẻ

a.  Lập nội quái :

1-  rút 1 cọng thẻ trẻ trong bó (50 chiếc) bỏ trở lại vào bình gốm ; biểu thị từ Vô cực 

chuyển thành Thái cực; thẻ tre tượng trưng Thái cực.

Trong quá trình dự đoán, người ta không đụng đến thẻ tre tượng trưng Thái cực.

2-  chia số thẻ còn lại (49 thẻ) thành hai nhóm ngẫu nhiên.

Nhóm tay trái để sang bên trái bình gốm. Nhóm tay phải đển bên phải bình gốm. Hai 

nhóm thẻ  biểu thị Lưỡng nghi (Thái cực sinh Lưỡng nghi).

3-  lấy 1 thẻ tre ở nhóm thẻ tre bên phải, kẹp vào giữa ngón tay út và áp út (đeo nhẫn) 

của tay trái.

4-  rút nhóm thẻ bên phải mỗi lần 2 thẻ, tượng trưng âm – dương. Tiếp tục 4 như 

lần thế, tượng trưng Tứ tượng. Tổng cộng số thẻ đã rút là 8 thẻ, tượng trưng Bát quái.

5-  tiếp tục rút thẻ như trên. Cho đến khi nhóm thẻ bên phải chỉ còn từ 0 – 7 thẻ

 (tức là không đủ tụ để rút).

Thí dụ : còn 2 thẻ.

6-  lấy 1 thẻ kẹp ở ngón tay út và áp út tay trái, bỏ vào nhóm thẻ bên phải còn lại (2 thẻ); 

ta được tổng cộng là 3 thẻ.

7-  đối chiếu số thẻ với số của Bát quái, ta tìm ra quẻ, hình quẻ, để lập thành nội quái 

( hạ quái).

Thí dụ : Đối chiếu, thấy số 3 là quẻ Ly.

8-  đổi nội quái (Càn) quẻ Địa Thiên Thái  (đã xếp trên) thành quẻ Ly vừa chiêm được. 

Quẻ Địa Thiên Thái  thành quẻ Địa Hỏa Minh.

             ䷊                      ䷣                         

                   Địa Thiên Thái       —->         Địa Hỏa Minh Di                                

b.  Lập ngoại quái :

Lấy 49 thẻ gộp lại thành một bó, chia bó này ra làm hai tụ một cách ngẫu nhiên, một tụ để 

bên phải, một tụ để bên trái bình  gốm. Nhưng lần này lấy nhóm thẻ ở bên trái bình gốm.

Mọi thao tác tương tự như  đã làm với nhóm thẻ bên phải: Nhón 1 thẻ kẹp vào ngón tay út 

và áp út. Tiến hành rút 4 lần mỗi lần 2 thẻ. Số thẻ còn lại từ 0 – 7 thẻ. Cộng với 1 thẻ kẹp 

ở ngón tay. Tìm được tổng số. Đối chiếu với số Bát quái. Ta có ngoại quái.

Ví dụ : Còn lại 6 + 1 = 7

Đối chiếu với số Bát quái 7 là Cấn. Thay Cấn vào 3 hào (được lập bởi 6 thẻ dẹp) còn lại 

(ngoại  quái  Khôn quẻ Địa Hỏa Minh)  ta có quẻ :   Sơn Hỏa Bí ䷕  

c. Tìm hào động :

Lấy 49 thẻ gộp lại thành một bó, chia bó này ra làm hai tụ một cách ngẫu nhiên, một tụ để

 bên phải, một tụ để bên trái bình  gốm.

Lấy 1 thẻ tụ thẻ bên  phải, kẹp bên ngón tay áp út và ngón tay út của bàn tay trái . 

Rút thẻ trên tụ phải, mỗi lần 2 thẻ (âm – dương), chia thành mỗi nhóm 6 thẻ (tượng trưng

 6 hào). Khi trên tụ phải số thẻ còn lại nhỏ hơn 5,lấy số thẻ đó cộng  với thẻ đang kẹp ở tay 

trái, tổng số chính là hào động.

Số 1 là hào 1 động, số 2 là hào 2 động, số 3 là hào 3 động, số 4 là hào 4 động, số 5 là 

hào 5 động, số 6 là hào 6 động.

Thí dụ : Sau khi rút còn 4 thẻ + 1 thẻ bên tay trái = 5 là hào 5 động

Nếu hào động là dương thì đổi dương thành âm, nếu hào âm động thì đổi âm 

thành dương.

Thí dụ :

Từ quẻ Sơn Hỏa Bí trên (quẻ chủ), hào 5 (âm) là hào động, đổi âm thành dương:

Sơn Hỏa Bí ䷕     thành quẻ biến   Phong Hỏa Gia Nhân   ䷤  

Ta có hai quẻ trùng quái, quẻ đầu là  quẻ chủ (xem sự việc), quẻ sau là quẻ biến (kết quả 

của sự việc

Quẻ thể và quẻ dụng :

Hào động có tác dụng giúp cho người ta tìm ra quẻ biến, để biết sự biến hóa từ tốt sang 

xấu hoặc từ tốt sang xấu của sự việc cần đoán. Lại nữa, nó còn quan trọng là phân biệt 

được quẻ thể và quẻ dụng trong quẻ biến. Thể là bản thân người luận đoán, dụng là công

 việc cần đoán.

Theo ví dụ vừa nêu trên, hào 5 là hào động, vậy quẻ Cấn ở trên (thượng quái) là quẻ thể; 

quẻ Ly ở dưới (hạ quái) là quẻ dụng của quẻ biến  Phong Hỏa Gia Nhân.

Người ta phối ngũ hành vào quẻ để biết sinh hay khắc của  quẻ dụng đối với quẻ thể. 

Có những trường hợp xảy ra:

1- quẻ thể khắc quẻ dụng là tốt (cát).

2- quẻ dụng khắc quẻ thể là xấu (hung).

3- thể và dụng ngang nhau (tức yếu tố ngũ hành giống nhau, thì thuận lợi.

4-  thể sinh dụng thì bị hao tổn.

5-  dụng sinh thể thì có tin vui.

6-  quẻ dụng trước tốt, sau khi biến thành xấu, là việc trước tốt sau xấu.

7-  quẻ dụng trước xấu, sau khi biến thành tốt, là việc trước xấu sau tốt.

8-  quẻ bị khắc chỗ này nhưng có chỗ khác sinh, biểu thị có sự cứu giúp.

9-  quẻ có chỗ bị khắc nhưng không có chỗ khác sinh (vô sinh), thì không có trợ giúp.

(còn tiếp bài Bấm Độn)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: